THƯ VIỆN TRỰC TUYẾN Tháp Canh
Tháp Canh
THƯ VIỆN TRỰC TUYẾN
Việt
  • KINH THÁNH
  • ẤN PHẨM
  • NHÓM HỌP
  • w99 1/12 trg 20-24
  • Cha mẹ dạy chúng tôi yêu thương Đức Chúa Trời

Không có video nào cho phần được chọn.

Có lỗi trong việc tải video.

  • Cha mẹ dạy chúng tôi yêu thương Đức Chúa Trời
  • Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—1999
  • Tiểu đề
  • Tài liệu liên quan
  • Học lẽ thật của Kinh Thánh
  • Thực hành những điều mình học
  • Dạy chúng tôi lẽ thật
  • Đám đông hành hung ở Selma
  • Đến trường giáo sĩ Ga-la-át
  • Cùng làm giáo sĩ với cha mẹ
  • Chăm sóc cha mẹ chúng tôi
  • Di sản thiêng liêng dồi dào của chúng tôi
    Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—1995
  • Nếu cha mẹ mình bị bệnh thì sao?
    Giới trẻ thắc mắc
  • Noi theo dấu chân của cha mẹ
    Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—1995
  • Tôi tìm được sự hòa thuận với Đức Chúa Trời và với mẹ
    Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—2015
Xem thêm
Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—1999
w99 1/12 trg 20-24

Cha mẹ dạy chúng tôi yêu thương Đức Chúa Trời

DO ELIZABETH TRACY KỂ LẠI

Những người đàn ông vũ trang uy hiếp cha mẹ tôi ra khỏi xe; trước đó trong ngày, họ đã dẫn đầu một đám đông uy hiếp chúng tôi. Họ để mặc hai chị em tôi ngồi yên ở băng sau, chúng tôi tự hỏi không biết sẽ còn gặp lại cha mẹ nữa hay không. Điều gì đã gây nên nỗi kinh hoàng này, gần Selma, bang Alabama, Hoa Kỳ, vào năm 1941? Và những điều cha mẹ dạy chúng tôi có liên quan gì đến vụ này?

CHA tôi, Dewey Fountain, từ hồi còn bé đã được một người bà con nuôi dưỡng trong một trang trại ở bang Texas sau khi ông bà nội qua đời. Sau đó cha đi làm việc ở mỏ dầu. Vào năm 1922, lúc được 23 tuổi, cha cưới Winnie, một phụ nữ trẻ đẹp người Texas, và bắt đầu tính chuyện an cư lạc nghiệp và nuôi nấng gia đình.

Cha xây một ngôi nhà trên đất rừng thuộc miền đông Texas gần thị trấn Garrison. Ở đó cha trồng nhiều vụ mùa khác nhau, kể cả bông vải và bắp (ngô). Cha cũng nuôi gia súc đủ loại. Thời gian trôi qua, chúng tôi ra đời—Dewey con, sinh tháng 5 năm 1924, Edwena sinh tháng 12 năm 1925, và tháng 6 năm 1929 thì tôi chào đời.

Học lẽ thật của Kinh Thánh

Cha mẹ tôi tưởng mình đã hiểu Kinh Thánh bởi vì họ thuộc Giáo Hội Đấng Christ. Nhưng vào năm 1932, anh G. W. Cook để lại sách Deliverance và Government do Hội Tháp Canh xuất bản, cho bác tôi là Monroe Fountain. Nóng lòng chia sẻ những điều học được cho cha mẹ tôi, bác Monroe thường ghé qua vào bữa điểm tâm, đọc một bài của tạp chí Tháp Canh, và rồi “sơ ý” bỏ quên tạp chí này ở nhà chúng tôi. Sau đó, cha mẹ tôi đọc.

Vào một sáng Chủ Nhật, bác Monroe mời cha sang nhà một người hàng xóm để học Kinh Thánh. Bác cam đoan rằng ông Cook có thể dùng Kinh Thánh để trả lời tất cả những câu hỏi của cha. Ngay sau khi học Kinh Thánh về, cha thích thú nói với gia đình: “Tất cả các câu hỏi của ba không những đã được trả lời mà ba còn biết thêm nữa! Ba cứ tưởng ba đã biết hết rồi, nhưng khi ông Cook bắt đầu giải thích về địa ngục, linh hồn, ý định của Đức Chúa Trời đối với trái đất, và Nước Trời sẽ thực hiện được điều đó như thế nào, ba bắt đầu cảm thấy thật ra mình chẳng biết ất giáp gì về Kinh Thánh cả!”

Căn nhà của chúng tôi dường như là chỗ tập trung của mọi người. Bà con, bè bạn đến thăm, họ làm kẹo và bắp rang và hát họa theo tiếng dương cầm của mẹ. Dần dần những cuộc vui này được thay bằng những cuộc thảo luận về đề tài Kinh Thánh. Mặc dù bọn trẻ con chúng tôi không hiểu hết những điều người lớn thảo luận, nhưng tình yêu thương sâu đậm của cha mẹ đối với Đức Chúa Trời và Kinh Thánh quá rõ đến độ chúng tôi, mỗi người con, đều vun trồng một tình yêu thương tương tự như thế đối với Đức Chúa Trời và Lời Ngài.

Những gia đình khác cũng mở rộng cửa nhà họ để thảo luận Kinh Thánh hàng tuần, các cuộc thảo luận thường xoay chung quanh một đề tài trong tạp chí Tháp Canh mới nhất. Khi những gia đình ở những thị trấn phụ cận Appleby và Nacogdoches mở cửa nhà họ để tổ chức các buổi họp, chúng tôi leo lên chật ních chiếc xe Ford kiểu A để đi đến đó, bất kể trời mưa hay nắng.

Thực hành những điều mình học

Không bao lâu cha mẹ chúng tôi thấy cần phải thực hành những gì mình đã học. Tình yêu thương Đức Chúa Trời đòi hỏi phải chia sẻ những gì mình đã học với người khác. (Công-vụ các Sứ-đồ 20:35) Nhưng hành động công khai loan báo đức tin của mình là một thách đố, nhất là cha mẹ chúng tôi bản chất hay thẹn và khiêm tốn. Thế nhưng, tình yêu thương Đức Chúa Trời đã thúc đẩy và giúp cha mẹ dạy chúng tôi đặt lòng tin cậy sâu đậm nơi Đức Giê-hô-va. Cha diễn tả như sau: “Đức Giê-hô-va đang biến người nông dân thành người rao giảng!” Vào năm 1933, cha mẹ biểu trưng sự dâng mình cho Đức Giê-hô-va bằng cách làm báp têm trong nước tại một ao cá gần Henderson, bang Texas.

Đầu năm 1935, cha viết thư cho Hội Tháp Canh và nêu một số câu hỏi liên quan đến hy vọng của tín đồ Đấng Christ về sự sống đời đời. (Giăng 14:2; 2 Ti-mô-thê 2:11, 12; Khải-huyền 14:1, 3; 20:6) Cha được anh Joseph F. Rutherford, lúc đó là chủ tịch của Hội, đích thân hồi âm. Thay vì trả lời câu hỏi của cha, anh Rutherford mời cha đi dự hội nghị của Nhân Chứng Giê-hô-va ở thủ đô Washington, D.C. vào tháng 5.

Cha nghĩ: ‘Làm sao đi được! Chúng tôi là nông dân đang chăm sóc 26 mẫu đất trồng hoa màu kia mà. Tất cả hoa lợi này cần được gặt hái mang ra chợ bán vào lúc đó’. Tuy nhiên, ít lâu sau, một cơn lũ lụt ập đến cuốn phăng đi tất cả—mùa màng, rào giậu và cầu cống—khiến cha hết lý do. Vì thế chúng tôi cùng những Nhân Chứng khác thuê một chiếc xe buýt đưa chúng tôi đi 1.600 kilômét về phía đông bắc đến địa điểm hội nghị.

Tại hội nghị, cha mẹ thích thú lắng nghe lời giải thích rõ ràng về lai lịch của “đám đông lớn”, là những người sẽ sống sót qua “hoạn nạn lớn”. (Khải-huyền 7:9, 14 King James Version) Trong suốt quãng đời còn lại, hy vọng được sống đời đời trong địa đàng trên đất đã thúc đẩy cha mẹ hành động, và cha mẹ đã khuyến khích chúng tôi “cầm lấy sự sống thật”, đối với chúng tôi nó nghĩa là sự sống đời đời trên đất mà Đức Giê-hô-va ban cho. (1 Ti-mô-thê 6:19; Thi-thiên 37:29; Khải-huyền 21:3, 4) Dù lúc đó chỉ mới lên năm, tôi thật sự thích thú được góp mặt với gia đình vào dịp vui mừng này.

Sau khi dự hội nghị về, gia đình tôi trồng lại vụ mùa, và sau đó chúng tôi đã thu hoạch vụ mùa tốt nhất từ trước đến nay. Điều này giúp cha mẹ tin chắc rằng việc đặt sự trông cậy nơi Đức Giê-hô-va sẽ không bao giờ mất phần thưởng. Cha mẹ sắp đặt một hình thức rao giảng đặc biệt: mỗi người đồng ý mỗi tháng dành 52 giờ cho thánh chức. Và rồi, khi đến vụ mùa sau, họ bán hết sạch—không chừa lại thứ gì! Cha đóng một nhà có xe kéo, dài khoảng 6 mét ngang 2,4 mét để năm người chúng tôi ở, và cha mua một chiếc xe Ford mới toanh hai cửa để làm xe kéo. Bác Monroe làm theo, và bác cũng cùng với gia đình sinh sống trong một cái nhà di động.

Dạy chúng tôi lẽ thật

Vào tháng 10 năm 1936, cha mẹ bắt đầu làm tiên phong, tức phục vụ trọn thời gian. Cả gia đình chúng tôi rao giảng ở các quận huyện ở phía đông bang Texas, những nơi này ít được nghe nói về thông điệp Nước Trời. Trong ngót một năm, chúng tôi di chuyển từ nơi này sang nơi khác, nhưng nói chung, chúng tôi thật sự thích nếp sống này. Bằng lời nói và gương mẫu, cha mẹ dạy chúng tôi noi gương những tín đồ Đấng Christ thời ban đầu, họ đã hiến trọn đời mình để rao truyền lẽ thật cho người khác.

Làm con cái, chúng tôi đặc biệt thán phục mẹ đã hy sinh từ bỏ căn nhà mình. Nhưng có một cái mà mẹ không thể xa lìa, đó là cái máy may. Điều này cũng tốt. Là thợ may khéo tay, mẹ luôn luôn cho chúng tôi ăn mặc đẹp. Trong mỗi kỳ hội nghị, chúng tôi đều có quần áo mới và đẹp.

Tôi còn nhớ rõ khi anh Herman G. Henschel cùng gia đình đến vùng chúng tôi trong một chiếc xe phóng thanh của Hội Tháp Canh. Họ đậu xe trong khu vực đông dân cư, mở máy cho nghe một bài giảng ngắn đã thu băng, và rồi đích thân đi thăm người ta để cung cấp thêm sách báo. Dewey con thích làm bạn với Milton, con trai anh Herman, lúc đó trạc 15, 16 tuổi. Hiện nay anh Milton là Chủ Tịch Hội Tháp Canh.

Trong kỳ hội nghị năm 1937 tại Columbus, bang Ohio, Edwena làm báp têm, và cha mẹ được mời nhận đặc ân phụng sự với tư cách tiên phong đặc biệt. Vào thời đó, công việc tiên phong đặc biệt đòi hỏi mỗi tháng phải dành ít nhất 200 giờ cho công việc rao giảng. Khi hồi tưởng lại, tôi mới hiểu gương tốt của mẹ đã giúp tôi ủng hộ chồng tôi biết bao, trong nhiệm vụ tín đồ Đấng Christ của anh ấy.

Khi sắp đặt cuộc học hỏi Kinh Thánh với một gia đình nào đó, cha dẫn chúng tôi đi theo để cung cấp một gương mẫu tích cực cho con cái họ. Cha cho chúng tôi tra và đọc những đoạn Kinh Thánh và trả lời một số câu hỏi căn bản. Kết quả là nhiều người trẻ trong số người học Kinh Thánh với chúng tôi đang trung thành phụng sự Đức Giê-hô-va cho đến nay. Thật thế, một nền tảng vững chắc cũng đã được đặt trong lòng chúng tôi để tiếp tục yêu thương Đức Chúa Trời.

Khi Dewey con lớn lên, anh thấy việc sống với hai cô em gái trong những chỗ ở chật hẹp như thế không tiện. Vì vậy, vào năm 1940 anh quyết định ra ở riêng và bắt đầu công việc tiên phong với một anh Nhân Chứng khác. Cuối cùng, anh cưới chị Audrey Barron. Nhờ thế, chị Audrey cũng được cha mẹ tôi dạy dỗ nhiều điều nên chị yêu thương cha mẹ thắm thiết. Sau khi anh Dewey ngồi tù vào năm 1944 vì giữ sự trung lập của tín đồ Đấng Christ, chị đến sống với chúng tôi trong một thời gian trong căn nhà di động chật hẹp của chúng tôi.

Tại hội nghị lớn ở St. Louis, bang Missouri, vào năm 1941, anh Rutherford nói trực tiếp với các em tuổi từ 5 đến 18 ngồi nơi hàng ghế đặc biệt phía trước. Edwena và tôi lắng nghe giọng nói rõ ràng, trầm tĩnh của anh ấy, anh giống như một người cha yêu thương dạy con cái mình ở nhà. Anh khuyến khích các bậc cha mẹ: “Ngày nay Chúa Giê-su Christ nhóm dân sự trong giao ước của ngài trước mặt ngài, và bằng lời lẽ mạnh mẽ ngài bảo họ dạy dỗ con cái sống theo đường lối công bình”. Anh nói tiếp: “Hãy giữ các con ở trong nhà và dạy lẽ thật!” Sung sướng thay, cha mẹ chúng tôi đã làm như thế!

Trong hội nghị đó, chúng tôi nhận được sách nhỏ mới Jehovah’s Servants Defended (Tôi tớ Đức Giê-hô-va được bảo vệ); sách này điểm qua những vụ thắng kiện của Nhân Chứng Giê-hô-va, kể cả những vụ đưa ra trước Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ. Cha đã học hỏi sách này với cả gia đình. Chúng tôi đâu ngờ rằng lúc đó chúng tôi đang được chuẩn bị để đối phó với những gì sẽ xảy ra vài tuần sau đó ở Selma, Alabama.

Đám đông hành hung ở Selma

Vào buổi sáng hôm xảy ra nỗi kinh hoàng đó, cha tôi đã đem giao bản sao của một lá thư cho ông cảnh sát trưởng cấp quận, ông thị trưởng, và chỉ huy trưởng cảnh sát ở Selma; lá thư này miêu tả quyền lợi theo hiến pháp Hoa Kỳ cho phép chúng tôi thực hiện thánh chức của mình dưới sự bảo vệ của luật pháp. Bất kể điều đó, họ quyết định đuổi chúng tôi ra khỏi thị trấn.

Vào xế chiều, năm người đàn ông có vũ khí tới nhà di động của chúng tôi, bắt mẹ, chị tôi và tôi làm con tin. Họ lục lạo lung tung mọi thứ bên trong hòng tìm được tài liệu chống chính phủ. Cha tôi ở bên ngoài, và họ ra lệnh cho cha phải buộc nhà di động vào chiếc xe kéo, lúc nào cũng chĩa súng về phía cha tôi. Vào lúc này, tôi chưa hoảng sợ. Việc những người này nghĩ rằng chúng tôi là thành phần nguy hiểm dường như lố bịch đến nỗi chị tôi và tôi cười khúc khích. Tuy nhiên, chẳng bao lâu cha liếc nhìn khiến chúng tôi nghiêm trang trở lại.

Khi chúng tôi đã sẵn sàng lên đường, những người đàn ông này muốn Edwena và tôi đi xe họ. Cha tôi nói giọng cương quyết: “Bao lâu tôi còn sống thì tôi sẽ không để các con gái tôi lên xe các ông!” Sau một hồi bàn bạc, gia đình tôi được phép đi chung với nhau, và những người đàn ông mang vũ khí lái xe theo sau chúng tôi. Ra khỏi thị trấn được khoảng 25 kilômét, họ ra hiệu cho chúng tôi đậu xe bên lề xa lộ và dẫn cha mẹ chúng tôi đi. Những người đàn ông này thay phiên nhau cố thuyết phục cha mẹ: “Hãy bỏ đạo đó đi. Hãy trở về nông trại mà nuôi dưỡng các con gái của ông bà cho tử tế đi!” Cha cố lý luận với họ nhưng hoài công.

Cuối cùng, một người đàn ông nói: “Đi đi, và nếu các người còn muốn trở lại Quận Dallas, chúng tôi sẽ giết sạch cả lũ!”

Thoát nạn và gia đình sum họp lại, chúng tôi đi tiếp thêm vài giờ, rồi đậu xe lại để nghỉ đêm. Chúng tôi đã ghi biển số xe của họ. Cha tôi liền báo cáo mọi việc cho Hội Tháp Canh rõ, và vài tháng sau, những người đàn ông trên bị nhận diện và bị bắt.

Đến trường giáo sĩ Ga-la-át

Edwena nhận được thư mời tham dự khóa 7 của Trường Kinh Thánh Ga-la-át của Hội Tháp Canh ở South Lansing, New York, năm 1946. Anh Albert Schroeder, một trong những giảng viên, đề cập đến những đức tính tốt của chị với Bill Elrod là người bạn tiên phong trước kia của anh ấy, lúc bấy giờ đang phục vụ trong nhà Bê-tên, trụ sở trung ương quốc tế của Nhân Chứng Giê-hô-va ở Brooklyn, New York.a Edwena và Bill được giới thiệu với nhau, và khoảng một năm sau khi chị ấy tốt nghiệp Trường Ga-la-át, họ thành hôn. Họ tiếp tục thánh chức trọn thời gian trong nhiều năm, kể cả năm năm cùng nhau phục vụ tại Bê-tên. Rồi một ngày kia vào năm 1959, anh Schroeder thông báo cho khóa 34 của Trường Ga-la-át rằng người bạn yêu dấu của anh đã trở thành bố của một cặp song sinh, một trai, một gái.

Trong khi tôi cùng với cha mẹ phụng sự tại Meridian, Mississippi, cuối năm 1947, cả ba người chúng tôi nhận được thư mời tham dự khóa 11 Trường Ga-la-át. Chúng tôi ngạc nhiên quá đỗi vì theo tiêu chuẩn thì tôi còn quá trẻ còn cha mẹ tôi lại quá già. Nhưng có sự ngoại lệ này, và chúng tôi nhận được đặc ân ấy về sự dạy dỗ cao đẳng của Kinh Thánh.

Cùng làm giáo sĩ với cha mẹ

Nhiệm sở giáo sĩ của chúng tôi là Colombia, Nam Mỹ. Tuy nhiên, mãi cho đến tháng 12 năm 1949, hơn một năm sau khi tốt nghiệp, chúng tôi mới bước chân vào nhà giáo sĩ ở Bogatá, nơi đó đã có ba giáo sĩ khác ở đó rồi. Thoạt tiên, cha tôi hầu như kết luận rằng dạy người ta nói tiếng Anh còn dễ hơn học tiếng Tây Ban Nha! Vâng, có các thử thách, nhưng thật là những ân phước lớn biết bao! Vào năm 1949, có chưa đến một trăm Nhân Chứng ở Colombia, nhưng nay đã có trên 100.000 người!

Sau khi phục vụ ở Bogotá được năm năm, cha mẹ được cử đến thành phố Cali. Trong khi đó, vào năm 1952, tôi kết hôn với Robert Tracy, một người bạn giáo sĩ ở Colombia.b Chúng tôi ở lại Colombia đến năm 1982, thì được bổ nhiệm đi Mexico, ở đây chúng tôi vẫn còn phụng sự cho đến nay. Cuối cùng, vào năm 1968, cha mẹ phải trở về Hoa Kỳ vì lý do sức khỏe. Sau khi sức khỏe phục hồi, cha mẹ tiếp tục làm tiên phong đặc biệt gần Mobile, bang Alabama.

Chăm sóc cha mẹ chúng tôi

Nhiều năm trôi qua, cha mẹ bắt đầu suy yếu nên cần được nâng đỡ và quan tâm nhiều hơn. Thể theo lời yêu cầu, cha mẹ được thuyên chuyển về phục vụ gần Edwena và Bill ở Athens, Alabama. Sau đó anh tôi, Dewey con, nghĩ là việc gia đình sống gần nhau hơn ở South Carolina là điều khôn ngoan. Vì vậy Bill mang cả gia đình anh ấy đến Greenwood cùng với cha mẹ tôi. Sự điều chỉnh đầy yêu thương này giúp cho Robert và tôi tiếp tục công việc giáo sĩ ở Colombia vì biết rằng cha mẹ mình đang được chăm sóc chu đáo.

Rồi vào năm 1985, cha tôi bị tai biến mạch máu não khiến cha không nói được và liệt giường. Chúng tôi họp gia đình lại để bàn tính cách chăm sóc chu đáo nhất cho cha mẹ. Sau đó mọi người quyết định cử Audrey làm người chăm sóc chính cho cha và Robert và tôi sẽ giúp đỡ hết sức mình bằng cách mỗi tuần gửi thư kể những kinh nghiệm khích lệ và bằng cách viếng thăm thường xuyên mỗi khi có dịp.

Cuộc viếng thăm cha lần cuối vẫn còn sống động trong trí tôi. Cha không thể nói năng rõ ràng một cách bình thường được, nhưng sau khi nói với cha rằng chúng tôi sẽ trở về Mexico, bằng cách nào đó cha gắng gượng thốt lên một chữ duy nhất: “Adios!” nghĩa là tạm biệt. Nhờ đó chúng tôi biết rằng lòng cha ủng hộ quyết định của chúng tôi tiếp tục thực hiện công việc giáo sĩ. Cha qua đời vào tháng 7 năm 1987 và chín tháng sau đó thì mẹ mất.

Lá thư của người chị góa bụa của tôi khéo léo gói ghém trọn lòng biết ơn mà chúng tôi dành cho cha mẹ. “Chị trân trọng di sản đạo Đấng Christ phong phú của mình và không bao giờ, dù trong giây lát, chị nghĩ rằng mình sẽ sung sướng hơn nếu cha mẹ quyết định dưỡng dục chúng ta bằng cách khác. Cha mẹ đã nêu gương về đức tin vững mạnh, tinh thần hy sinh và lòng tin cậy hoàn toàn nơi Đức Giê-hô-va, những điều này đã giúp đỡ chị trong những lúc ngã lòng trong đời chị”. Chị Edwena kết luận: “Chị cám ơn Đức Giê-hô-va vì bằng lời nói và gương mẫu, cha mẹ cho chúng ta thấy được niềm hạnh phúc mà chúng ta có thể có, khi xây đắp đời sống mình chung quanh việc phụng sự Đức Chúa Trời Giê-hô-va yêu thương của chúng ta”.

[Chú thích]

a Xem Tháp Canh (Anh ngữ), ngày 1-3-1988, trang 11, 12.

b Xem Tháp Canh (Anh ngữ), ngày 15-3-1960, trang 189-191.

[Hình nơi trang 22]

Gia đình Fountain: (từ trái sang phải) Dewey, Edwena, Winnie, Elizabeth, Dewey con; bên phải: Elizabeth và Dewey con ngồi trên cây cản của xe phóng thanh của anh Henschel (năm 1937); phía dưới, bên phải: Elizabeth đang làm công việc công bố lúc 16 tuổi

    Ấn phẩm Tiếng Việt (1984-2026)
    Đăng xuất
    Đăng nhập
    • Việt
    • Chia sẻ
    • Tùy chỉnh
    • Copyright © 2026 Watch Tower Bible and Tract Society of Pennsylvania
    • Điều khoản sử dụng
    • Quyền riêng tư
    • Cài đặt quyền riêng tư
    • JW.ORG
    • Đăng nhập
    Chia sẻ