Làm chứng cho người từ mọi thứ tiếng và thuộc mọi tôn giáo
1 Tín đồ đấng Christ trong thế kỷ thứ nhất đã sốt sắng làm chứng cho những người nói ngôn ngữ và theo những tôn giáo khác nhau. Kết quả là “vào khoảng năm 100 có lẽ mỗi tỉnh nằm ven Địa Trung Hải đều có một cộng đồng tín đồ đấng Christ” (History of the Middle Ages).
2 Tại Hoa Kỳ, nhiều người nói các thứ tiếng khác ngoài tiếng Anh. Hiện giờ tại nhiều thành phố và thị xã, có các cộng đồng gồm khá đông kiều dân vì làn sóng tị nạn. Trong số này, có nhiều người thực hành các tôn giáo khác nhau không thuộc đạo tự xưng theo đấng Christ, kể cả hàng trăm ngàn người Phật giáo, Ấn Độ giáo, Do Thái giáo và Hồi giáo. Vì có nhiều ngôn ngữ và tôn giáo khác nhau này, thật khó mà biết cách nói chuyện và làm chứng cho tất cả những người ấy khi chúng ta gặp họ. Thật thế, chúng ta có thể làm giáo sĩ tại chính khu vực địa phương của mình. Chúng ta có thể làm theo mệnh lệnh của Chúa Giê-su là “giảng-dạy cho dân-chúng, và chứng quyết” cho người từ mọi thứ tiếng và thuộc mọi tôn giáo như thế nào? (Công-vụ các Sứ-đồ 10:42).
Làm chứng cho người nói ngôn ngữ khác
3 Trong vòng dân số nói ngoại ngữ sống trong 48 tiểu bang của chi nhánh Hoa Kỳ, có sự gia tăng lớn về người công bố mới. Có nhiều hội thánh ngoại ngữ trong 17 thứ tiếng và nhiều nhóm trong 7 thứ tiếng khác nữa. Tuy nhiên, chúng ta có thể làm thêm nhiều hơn nữa ở những khu vực nào không có hội thánh nói ngoại ngữ rao giảng.
4 Vượt qua hàng rào ngôn ngữ: Chắc chắn có nhiều người học nhanh hơn và hiểu biết thâm sâu hơn nếu họ được dạy trong tiếng mẹ đẻ. “Vì cớ [tin mừng]” và hầu cho họ “cũng có phần trong đó”, nhiều anh chị em học thêm một thứ tiếng khác (I Cô-rinh-tô 9:23). Một phụ nữ nói tiếng Hoa dù đều đặn nhận tạp chí trong nhiều năm từ một chị nói tiếng Anh qua lộ trình tạp chí, bà vẫn từ chối học hỏi Kinh-thánh cho đến khi một chị khác, đang học tiếng Hoa mời bà nhận một cuốn sách bằng tiếng Hoa. Bà sẵn sàng nhận sách và học hỏi Kinh-thánh. Sở dĩ có kết quả là vì chị thứ hai cố gắng nói vài lời bằng tiếng mẹ đẻ của phụ nữ kia. (So sánh Công-vụ các Sứ-đồ 22:2).
5 Tháp Canh ra ngày 1-8-1993 có lý do chính đáng để bình luận: “Việc học một ngôn ngữ khác... không những sẽ phát triển khả năng trí tuệ của những người trẻ, mà lại còn khiến họ trở nên hữu dụng hơn trong tổ chức Đức Giê-hô-va”. Nhiều thành viên của gia đình Bê-tên cũng bỏ công học một thứ tiếng mới. Bằng cách này, các anh đã đặc biệt giúp ích cho những hội thánh đang cần các anh để dẫn đầu. Nếu bạn biết một thứ tiếng khác hoặc bạn sẵn sàng muốn học ngoại ngữ, chính bạn cũng có thể giúp ích cho một hội thánh hoặc một nhóm nói ngoại ngữ (Ma-thi-ơ 9:37, 38).
6 Một anh ở Florida học tiếng Việt trước khi biết lẽ thật, bây giờ anh vui mừng trong việc chia sẻ tin mừng với những người nói tiếng Việt. Để có dịp sử dụng sự hiểu biết về ngôn ngữ đó trong việc làm chứng, anh cùng gia đình dọn sang phía bên kia nước Mỹ, nơi cánh đồng rao giảng cho người Việt Nam có nhu cầu lớn hơn. Từ khi dọn nhà, anh đạt được nhiều kết quả trong việc học hỏi Kinh-thánh với người Việt.
7 Một chị tiên phong ở California gặp nhiều người điếc trong khu vực của chị. Chị cầu xin Đức Giê-hô-va giúp chị tìm được người nào dạy chị học ngôn ngữ ra dấu, để chị có thể dạy lẽ thật cho người điếc. Một ngày nọ, khi chị đi mua sắm trong một siêu thị gần nhà, một phụ nữ bị điếc lại gần viết giấy xin chị giúp cô ấy tìm một món hàng nào đó. Sau khi giúp cô này tìm ra món hàng, chị tiên phong viết giấy ngỏ ý muốn học ngôn ngữ ra dấu, để có thể giúp những người điếc sống ở trong vùng. Rồi phụ nữ điếc viết giấy hỏi chị: “Tại sao cô muốn giúp đỡ người điếc?” Chị viết giấy đáp lại: “Tôi là Nhân-chứng Giê-hô-va và tôi muốn giúp người điếc hiểu Kinh-thánh. Tôi sẽ sung sướng dạy cô Kinh-thánh nếu cô dạy tôi ngôn ngữ ra dấu”. Chị ấy nói: “Các anh chị không thể tưởng tượng tôi vui đến độ nào khi cô ấy nói ‘Được lắm’ ”. Chị đến nhà phụ nữ ấy mỗi buổi tối trong vòng sáu tuần lễ. Chị đã học được ngôn ngữ ra dấu, và phụ nữ điếc đã học được lẽ thật và làm báp têm! Kinh nghiệm này đã xảy ra cách đây hơn 30 năm rồi, và chị tiên phong vẫn còn làm chứng cho người điếc, và hiện chị kết hợp với một hội thánh dùng ngôn ngữ ra dấu.
8 Nếu bạn nói rành một ngôn ngữ khác, và có ước muốn và có thể dọn đến nơi nào có nhu cầu rao giảng lớn hơn, tại sao không thảo luận với các trưởng lão trong hội thánh? Nếu họ thấy bạn hội đủ điều kiện để dọn đi, bạn hãy xin anh giám thị vòng quanh cho biết bạn có thể phục vụ ở vùng nào gần chỗ bạn đang ở hay không. Nếu không có, thì bạn có thể viết thư về Hội, chuyển qua các trưởng lão, kèm theo một lá thư giới thiệu với lời nhận xét của họ về khả năng và năng khiếu ngôn ngữ của bạn. (Xem Tháp Canh [Anh ngữ], ngày 15-8-1988, trang 21-23).
9 Dùng những công cụ sẵn có: Chúng ta có sẵn các ấn phẩm trong nhiều ngoại ngữ. Điều tốt là đem các giấy nhỏ theo—hoặc nếu không có hội thánh ngoại ngữ rao giảng trong cùng khu vực, có thể mang theo sách mỏng Đòi hỏi—trong các thứ tiếng mà người địa phương nói trong khu vực của bạn. Nếu bạn thấy chủ nhà không nói tiếng Anh là ngôn ngữ chính, hãy hỏi xem người đó đọc được ngôn ngữ nào. Điều này có thể cho phép bạn mời nhận nhiều ấn phẩm khác nhau. Chẳng hạn, một người biết nói tiếng Urdu cũng có thể đọc được tiếng Ả-rập.
10 Ngay dù bạn không nói được ngôn ngữ của chủ nhà, bạn vẫn có thể trình bày tin mừng cho người đó. Bằng cách nào? Bằng cách dùng sách nhỏ Good News for All Nations, trình bày thông điệp trong 59 thứ tiếng. Như lời hướng dẫn nơi trang 2 của sách nhỏ giải thích, sau khi biết được ngôn ngữ của chủ nhà, hãy mời họ đọc phần tin tức in nơi trang liên hệ trong sách nhỏ. Sau khi đọc xong, hãy cho họ xem ấn phẩm trong thứ tiếng của họ. Nếu bạn không mang theo, hãy cho người đó xem ấn phẩm bằng tiếng Anh. Hãy cho họ biết bạn sẽ cố gắng trở lại với ấn phẩm bằng thứ tiếng của họ. Hãy xin chủ nhà cho biết tên cùng với địa chỉ. Có lẽ bạn có thể gửi các chi tiết này đến hội thánh hoặc nhóm gần nhất nói thứ tiếng đó, dùng Phiếu Trở Lại Rao Giảng Thêm Cho Những Người Nói Tiếng Ngoại Quốc (S-70a). Để biết thêm chi tiết về việc giao lại các chi tiết này cho những anh em nào phụ trách tiếng ngoại ngữ, xin xem trang 7 của tờ Thánh Chức Nước Trời tháng 10 năm 1993. Nếu không có ai nói được ngôn ngữ ấy để tiếp tục vun trồng sự chú ý, bạn có thể tự xoay sở lấy, có lẽ ngay cả học hỏi với người đó trong khi bạn dò theo sách tiếng Anh (I Cô-rinh-tô 9:19-23).
Rao giảng cho những người không thuộc đạo tự xưng theo đấng Christ
11 Việc hiểu biết sơ qua về quá trình tôn giáo của một người giúp chúng ta làm chứng hữu hiệu về Nước Đức Chúa Trời. Cuốn sách Mankind’s Search of God cho chúng ta một cái nhìn bao quát về các tôn giáo chính trên thế giới để chúng ta có thể hiểu về tín ngưỡng của người ta hầu giúp họ biết lẽ thật.
12 Khung nơi trang chót của tờ phụ trang này là bảng liệt kê hiện hành các ấn phẩm mà tổ chức Đức Giê-hô-va đã cung cấp để chúng ta làm chứng cho những người không thuộc đạo tự xưng theo đấng Christ. Nhờ đọc các ấn phẩm này, chúng ta hiểu cách đem tin mừng đến cho người ta. Chớ quên một công cụ hữu ích là sách nhỏ Làm sao bắt đầu và tiếp tục thảo luận về Kinh-thánh. Trang 13-16 của sách này đưa ra những lời đề nghị thực tiễn về cách đối đáp với người Phật giáo, Ấn Độ giáo, Do Thái giáo và Hồi giáo.
13 Nói năng thận trọng: Chúng ta nên thận trọng để không vơ đũa cả nắm, kết luận rằng những người thuộc một tôn giáo nào đó cũng nhất thiết tin tưởng giống nhau. Thay vì thế, hãy cố gắng hiểu người mà bạn đang nói chuyện nghĩ gì (Công-vụ các Sứ-đồ 10:24-35). Là một người Hồi giáo, anh Salimoon được dạy để tin rằng kinh Koran là Lời Đức Chúa Trời. Nhưng anh không thể chấp nhận giáo điều của người Hồi giáo, dạy rằng một Đức Chúa Trời thương xót vô biên lại hành hạ người ta trong một địa ngục nóng bỏng. Một ngày nọ, Nhân-chứng Giê-hô-va mời anh đến dự một buổi họp. Anh nhận ra lẽ thật ngay, và anh hiện đang vui mừng phục vụ với tư cách một trưởng lão trong hội thánh tín đồ đấng Christ.
14 Khi làm chứng cho những người không tin theo đạo đấng Christ, chúng ta cần phải thận trọng về cách nhập đề để khỏi đánh mất cơ hội nói chuyện với họ về tin mừng (Công-vụ các Sứ-đồ 24:16). Những người thuộc một số tôn giáo rất sợ bị dụ dỗ bỏ đạo để theo đạo khác. Vậy hãy mau mắn tìm ra những điểm chung để thu hút họ đến toàn bộ lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời. Những người giống như chiên hưởng ứng trước lời nhập đề ân cần và cách trình bày rõ ràng về lẽ thật.
15 Việc chúng ta lựa lời mà nói cũng là chuyện hệ trọng, bằng chẳng vậy thì chúng ta khiến người ta bịt tai lại không chịu nghe thông điệp. Thí dụ, nếu bạn nói ngay bạn là tín đồ đấng Christ, người nghe có thể tự nhiên liên kết bạn với các giáo hội tự xưng theo đấng Christ, điều này có thể dựng lên một hàng rào giữa bạn và người đó. Cũng có thể có lợi hơn nếu nói đến Kinh-thánh là “thánh thư” hoặc “kinh điển” (Ma-thi-ơ 21:42; II Ti-mô-thê 3:15, NW).
16 Nếu bạn gặp một người không tự xưng theo đạo đấng Christ và bạn cảm thấy chưa sẵn sàng để làm chứng ngay tại chỗ, hãy nhân cơ hội đó để làm quen, để lại một tờ giấy nhỏ và trao đổi danh tánh. Rồi một hai ngày sau, hãy trở lại thăm người đó, sau khi đã chuẩn bị đầy đủ để làm chứng (I Ti-mô-thê 4:16; II Ti-mô-thê 3:17).
17 Làm chứng cho người Phật giáo: (Xem chương 6 trong sách Mankind’s Search for God). Người Phật giáo tin rất khác nhau giữa người này với người kia. Thay vì dạy về một Đấng Tạo Hóa, Phật giáo chủ trương lý tưởng tôn giáo của một người Ấn Độ tên là Phật Thích Ca, sống vào thế kỷ thứ sáu TCN. Thoạt tiên Thích Ca thấy một người bệnh, một người già và một người chết, ông khắc khoải về ý nghĩa của đời sống. Ông tự hỏi: ‘Phải chăng con người ta sinh ra chỉ để đau khổ, già và chết?’ Dĩ nhiên, chúng ta có thể trả lời những câu hỏi ấy cho người Phật giáo thành thật muốn biết câu trả lời.
18 Khi nói chuyện với người Phật giáo, hãy tập trung vào thông điệp tích cực và lẽ thật rõ ràng ghi trong cuốn thánh thư quí nhất là Kinh-thánh. Giống như đa số người khác, người Phật giáo đều rất quan tâm đến sự thanh bình, đạo đức và đời sống gia đình và họ thường thích nghe nói về những đề tài này. Điều này có thể dẫn đến việc bạn nhấn mạnh Nước Trời là giải pháp thật sự cho những vấn đề của nhân loại.
19 Tại một số vùng đô thị của Hoa Kỳ, có đông người Hoa di cư; họ theo Phật giáo và những triết lý khác của Đông Phương. Nhiều người trong họ là sinh viên đại học tại Hoa Kỳ. Khi một chị ở tiểu bang Montana thấy một người Hoa trong tiệm tạp hóa, chị trao cho ông ấy một tờ giấy nhỏ bằng tiếng Hoa và mời ông học hỏi Kinh-thánh. Ông nói: “Cô muốn nói đến Thánh Kinh à? Tôi đã đi tìm Thánh Kinh suốt cả đời!” Ông bắt đầu học hỏi ngay tuần ấy và bắt đầu đi dự tất cả các buổi họp.
20 Hơn mười năm, một chị tiên phong ở tiểu bang Nevada dạy lẽ thật cho các sinh viên người Hoa. Khi chị rao giảng trong một nhà lầu có tám căn hộ toàn là các sinh viên này ở, chị cầu nguyện xin Đức Giê-hô-va giúp chị bắt đầu một học hỏi Kinh-thánh trong mỗi căn hộ. Trong vòng hai tuần chị học với ít nhất một sinh viên trong mỗi căn hộ. Một phương pháp rất hữu hiệu của chị là bằng cách nói rằng chị đã tìm ra một mối quan tâm chung của sinh viên—đó là việc họ đều muốn có thanh bình và hạnh phúc. Rồi chị hỏi phải chăng đó cũng là mối quan tâm của họ. Họ luôn luôn đồng ý. Chị hướng sự chú ý của các sinh viên đến sách mỏng Lasting Peace and Happiness—How to Find Them, được soạn thảo đặc biệt cho người Hoa. Sau khi học chỉ năm lần, một sinh viên nói với chị là anh đã đi tìm lẽ thật lâu rồi và bây giờ mới gặp.
21 Làm chứng cho người Ấn Độ giáo: (Xem chương 5 trong sách Mankind’s Search for God). Ấn Độ giáo không có tín điều rõ rệt. Triết lý Ấn Độ giáo rất phức tạp. Người Ấn Độ có quan niệm ba ngôi về vị thần chính là Brahman (Brahma đấng Tạo Hóa, Vishnu đấng Bảo Tồn và Siva đấng Hủy Diệt). Sự tin tưởng nơi linh hồn bất tử là điều then chốt cho giáo điều đầu thai, có khuynh hướng đưa người Ấn Độ giáo đến chỗ có quan niệm may rủi về đời sống. (Xem sách Reasoning, trang 317-321 và Tháp Canh, ngày 15-5-1997, trang 3-8). Ấn Độ giáo dạy phải tôn trọng người khác, và mọi tôn giáo đều dẫn đến cùng một chân lý.
22 Một phương pháp để làm chứng cho người Ấn Độ giáo là giải thích hy vọng sống đời đời trên đất trong sự hoàn toàn mà Kinh-thánh dạy cũng như về những câu giải đáp thỏa đáng trong Kinh-thánh về các vấn đề quan trọng mà toàn thể nhân loại phải đương đầu.
23 Làm chứng cho người Do Thái: (Xem chương 9 trong sách Mankind’s Search for God). Khác với các tôn giáo khác không tự xưng theo đấng Christ, Do Thái giáo đặt nền tảng trên lịch sử, chứ không phải chuyện thần thoại. Kinh-thánh phần tiếng Hê-bơ-rơ được soi dẫn là một điều hết sức quan trọng giúp nhân loại tìm kiếm Đức Chúa Trời thật. Thế nhưng, trái với Lời Đức Chúa Trời, một giáo điều cơ bản của Do Thái giáo tân thời là linh hồn bất tử. Ta có thể thiết lập một điểm chung bằng cách khẳng định rằng chúng ta thờ phượng Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham và bằng cách công nhận rằng cả thảy chúng ta đều gặp phải cùng những vấn đề khó khăn trên thế giới ngày nay.
24 Nếu bạn gặp một người Do Thái thiếu đức tin nơi Đức Chúa Trời, việc bạn hỏi xem người đó có luôn luôn nghĩ như vậy không có thể giúp bạn nhận ra điều gì có thể thu hút sự chú ý của người đó. Thí dụ, người đó có thể không bao giờ nghe giải thích một cách thỏa đáng về lý do tại sao Đức Chúa Trời cho phép có đau khổ. Chúng ta có thể mời những người Do Thái chân thành xem xét lại lai lịch của Chúa Giê-su với tư cách là đấng Mê-si, không phải qua sự trình bày sai lầm của các tôn giáo tự xưng theo đấng Christ mà qua cách một số người Do Thái viết về ngài trong Kinh-thánh phần tiếng Hy Lạp.
25 Làm chứng cho người Hồi giáo: (Xem chương 12 trong sách Mankind’s Search for God). Người Hồi giáo tin vào sự dạy dỗ của Mô-ha-mét (hay đạo Islam), và họ tin nơi Allah là thần duy nhất, và Mô-ha-mét (570-632 CN) là nhà tiên tri cuối cùng và quan trọng nhất. Vì họ không tin Đức Chúa Trời có con, nên người Hồi giáo công nhận Chúa Giê-su Christ là nhà tiên tri bậc nhì của Đức Chúa Trời, không hơn, không kém. Kinh Koran, có không đầy 1.400 năm, dẫn chiếu Kinh-thánh cả phần tiếng Hê-bơ-rơ lẫn phần tiếng Hy Lạp. Giữa Hồi giáo và Công giáo có những sự tương đồng rõ rệt. Cả hai đạo đều dạy về linh hồn bất tử, nơi hành hạ tạm thời và sự hiện hữu của một hỏa ngục nóng bỏng.
26 Một điểm chung hiển nhiên giữa họ với chúng ta là sự kiện chúng ta tin chỉ có một Đức Chúa Trời thật và Kinh-thánh được ngài soi dẫn. Một người đọc kỹ kinh Koran thấy nói đến Torah, Thi-thiên và Phúc Âm như là Lời Đức Chúa Trời và thấy kinh ấy khuyên họ nên công nhận và vâng giữ các thánh thư ấy. Bởi vậy bạn có thể mời người đối thoại học các thánh thư này.
27 Lời trình bày sau đây có thể hữu hiệu trong việc giúp đỡ một người nói mình theo Hồi giáo: “Tôi chưa được dịp nói chuyện với nhiều người Hồi giáo, nhưng tôi đã đọc ít nhiều về những sự dạy dỗ của đạo ông / bà trong sách này. [Mở ra trang 15 của sách Làm sao bắt đầu và tiếp tục thảo luận về Kinh-thánh]. Sách này nói ông / bà tin rằng Chúa Giê-su đã từng là một nhà tiên tri, nhưng Mô-ha-mét là nhà tiên tri cuối cùng và quan trọng nhất. Ông / Bà cũng tin Môi-se là một nhà tiên tri thật chứ? [Đợi trả lời]. Tôi có thể cho ông / bà thấy Môi-se học được gì nơi Đức Chúa Trời về danh ngài không?” Rồi hãy đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 6:2, 3. Khi trở lại thăm, bạn có thể thảo luận tiểu đề “Một Đức Chúa Trời, một tôn giáo”, nơi trang 13 của sách nhỏ The Time for True Submission to God.
28 Ngày nay, nhiều người đang hành động phù hợp với những lời ghi nơi Ê-sai 55:6, nói rằng: “Hãy tìm-kiếm Đức Giê-hô-va đang khi mình gặp được; hãy kêu-cầu đang khi Ngài ở gần!” Điều này áp dụng cho những ai thành thật, bất luận họ nói ngôn ngữ nào hoặc có quá trình tôn giáo nào. Chúng ta có thể tin cậy rằng Đức Giê-hô-va sẽ ban phước cho nỗ lực của chúng ta để đi “dạy-dỗ muôn dân” (Ma-thi-ơ 28:19).
[Khung nơi trang 6]
Ấn phẩm dành cho những người không thuộc đạo tự xưng theo Đấng Christ
Người Phật giáo
Đi tìm một người Cha (Sách nhỏ)
“Nầy, Ta làm mới lại hết thảy muôn vật” (Sách mỏng)
Người Hoa
Lasting Peace and Happiness—How to Find Them (Sách mỏng)
Người Ấn Độ giáo
From Kurukshetra to Armageddon—And Your Survival (Sách nhỏ)
Our Problems—Who Will Help Us Solve Them? (Sách mỏng)
The Path of Divine Truth Leading to Liberation (Sách nhỏ)
Victory Over Death—Is It Possible for You? (Sách nhỏ)
Why Should We Worship God in Love and Truth? (Sách mỏng)
Người Do Thái giáo
A Peaceful New World—Will It Come? (Giấy nhỏ số 17)
Jehovah’s Witnesses—What Do They Believe? (Giấy nhỏ số 18)
Will There Ever Be a World Without War? (Sách mỏng)
Người Hồi giáo
How to Find the Road to Paradise (Giấy nhỏ)
The Time for True Submission to God (Sách nhỏ)