THƯ VIỆN TRỰC TUYẾN Tháp Canh
Tháp Canh
THƯ VIỆN TRỰC TUYẾN
Việt
  • KINH THÁNH
  • ẤN PHẨM
  • NHÓM HỌP
  • w93 1/3 trg 16-21
  • Ngày đáng ghi nhớ

Không có video nào cho phần được chọn.

Có lỗi trong việc tải video.

  • Ngày đáng ghi nhớ
  • Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—1993
  • Tiểu đề
  • Tài liệu liên quan
  • Ngày 14 Ni-san!
  • Mặc lấy sự khiêm nhường và yêu thương
  • “Đường đi, lẽ thật và sự sống”
  • Chịu đựng sự bắt bớ
  • Bắt đầu một giao ước mới
  • “Để nhớ đến ta”
  • “Trong nước của Cha ta”
  • Lời cầu nguyện tha thiết nhất
  • 14 Ni-san—Một ngày để tưởng nhớ
    Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—1986
  • Đoàn kết cùng nhau đeo đuổi mục tiêu của sự sống
    Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—1987
  • Hành động phù hợp với lời cầu nguyện yêu thương của Chúa Giê-su
    Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—2013
  • Bạn có thuộc những người được Đức Chúa Trời yêu mến không?
    Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—2002
Xem thêm
Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—1993
w93 1/3 trg 16-21

Ngày đáng ghi nhớ

“Ta đã bảo các ngươi những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng bình-yên trong ta. Các ngươi sẽ có sự hoạn-nạn trong thế-gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế-gian rồi!” (GIĂNG 16:33).

1, 2. Ngày nào là ngày nổi bật hơn tất cả những ngày khác trong lịch sử và tại sao?

THẾ GIỚI ngày nay bàn tán rất nhiều về hòa bình. Vào cuối Thế Chiến thứ hai, hòa bình được liên kết với ngày V-E và ngày V-J.a Hằng năm, mỗi lần đến lễ Giáng sinh là người ta nghĩ đến câu “bình-an dưới đất” (Lu-ca 2:14). Nhưng trong toàn thể lịch sử nhân loại, có một ngày nổi bật hơn tất cả những ngày khác. Đó là ngày mà Giê-su nói với các môn đồ lời trích dẫn nêu trên. Từ khi nhân loại hiện hữu trên trái đất đến nay đã có hơn hai triệu ngày, nhưng chỉ một ngày đó thôi mà đã làm thay đổi hẳn chiều hướng của nhân loại để đi đến chỗ tốt lành vĩnh viễn.

2 Ngày trọng đại đó là ngày 14 Ni-san theo lịch của người Do-thái. Vào năm 33 công nguyên, ngày 14 Ni-san bắt đầu khi mặt trời lặn vào ngày 1 tháng 4. Chúng ta hãy xem xét những biến cố xảy ra trong ngày đánh dấu lịch sử ấy.

Ngày 14 Ni-san!

3. Giê-su đã dùng những giờ phút cuối cùng như thế nào?

3 Vào lúc chạng vạng tối, một vầng trăng đầy đặn tuyệt đẹp tỏa chiếu như để nhắc nhở rằng Đức Giê-hô-va là Đấng xác định kỳ và mùa (Công-vụ các Sứ-đồ 1:7). Điều gì xảy ra khi Giê-su cùng 12 sứ đồ đang quây quần trên phòng cao để ăn mừng ngày lễ Vượt-qua hằng năm của người Do-thái? Lúc ấy, Giê-su chuẩn bị “lìa thế-gian để trở về cùng Đức Chúa Cha; Ngài đã yêu kẻ thuộc về mình trong thế-gian, thì cứ yêu cho đến cuối-cùng” (Giăng 13:1). Ngài làm điều đó bởi cách nào? Bởi lời nói và gương mẫu, Giê-su tiếp tục ghi khắc vào lòng các sứ đồ những đức tính mà sau này sẽ giúp họ chiến thắng thế gian.

Mặc lấy sự khiêm nhường và yêu thương

4. a) Giê-su đã bày tỏ một đức tính căn bản nào cho các môn đồ thấy? b) Làm sao chúng ta biết được Phi-e-rơ học được sự quan trọng của tính khiêm nhường?

4 Các sứ đồ vẫn chưa bỏ hết hẳn lòng ganh tị và tính tự tôn thúc đẩy bởi tham vọng. Vì thế Giê-su đã lấy khăn quấn mình và bắt đầu rửa chân cho họ. Đây không phải là một hình thức khiêm nhường giả tạo như giáo hoàng của tôn giáo tự xưng theo đấng Christ phô trương mỗi năm tại Roma. Thật không phải thế! Sự khiêm nhường thật có nghĩa là tự hy sinh mình và đức tính này đến từ việc “coi người khác tôn-trọng hơn mình” (Phi-líp 2:2-5). Lúc đầu, Phi-e-rơ không hiểu ý Giê-su nên đã từ chối không chịu cho ngài rửa chân. Sau khi được sửa lỗi, ông xin ngài rửa toàn thân cho mình (Giăng 13:1-10). Tuy vậy, Phi-e-rơ hẳn đã hiểu được bài học ấy. Nhiều năm sau đó, chúng ta thấy ông đã khuyên nhủ người khác đúng cách (I Phi-e-rơ 3:8, 9; 5:5). Ngày nay, thật quan trọng làm sao khi chúng ta làm tôi tớ cho đấng Christ với sự khiêm nhường! (Cũng xem Châm-ngôn 22:4; Ma-thi-ơ 23:8-12).

5. Qua lời răn nào Giê-su cho biết một đức tính then chốt khác?

5 Một trong 12 sứ đồ đã không áp dụng lợi ích của lời khuyên bảo của Giê-su, đó là Giu-đa Ích-ca-ri-ốt. Đang lúc ăn lễ Vượt-qua tâm thần của Giê-su trở nên buồn rầu, ngài nhận diện Giu-đa là kẻ phản bội và đuổi hắn đi. Chỉ sau khi đó Giê-su mới nói với 11 môn đồ trung thành: “Ta ban cho các ngươi một điều-răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy. Nếu các ngươi yêu nhau, thì tại điều đó mà thiên-hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn-đồ ta” (Giăng 13:34, 35). Đây đúng là một điều răn mới, được bày tỏ qua chính gương tuyệt hảo của Giê-su! Khi đến giờ ngài phải chết để hy sinh, Giê-su bày tỏ tình yêu thương tột bực. Ngài dùng từng giây, từng phút quí báu để dạy dỗ và khuyến khích những môn đồ này. Sau đó, để nhấn mạnh tầm quan trọng của tình yêu thương, ngài nói: “Điều-răn của ta đây này: Các ngươi hãy yêu nhau, cũng như ta đã yêu các ngươi. Chẳng có sự yêu-thương nào lớn hơn là vì bạn-hữu mà phó sự sống mình” (Giăng 15:12, 13).

“Đường đi, lẽ thật và sự sống”

6. Giê-su đưa ra mục tiêu nào cho các môn đồ thân cận của ngài?

6 Giê-su nói với 11 sứ đồ trung thành: “Lòng các ngươi chớ hề bối-rối; hãy tin Đức Chúa Trời cũng hãy tin ta nữa. trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm-sẵn cho các ngươi một chỗ” (Giăng 14:1, 2). Chỗ này là “nước thiên-đàng” (Ma-thi-ơ 7:21). Giê-su cho biết làm sao các môn đồ thân cận và trung thành này có thể đạt được mục tiêu của họ. Ngài nói: “Ta là đường đi, lẽ thật và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha” (Giăng 14:6). Lời này cũng áp dụng cho những người sẽ nhận được sự sống đời đời trên đất (Khải-huyền 7:9, 10; 21:1-4).

7-9. Tại sao Giê-su tự miêu tả chính ngài là “đường đi, lẽ thật và sự sống?

7 Giê-su là “đường đi”. Cách duy nhất để đến gần Đức Chúa Trời trong lời cầu nguyện là qua Giê-su Christ. Chính Giê-su bảo đảm với các môn đồ của ngài rằng Đức Chúa Trời sẽ ban cho họ bất cứ điều gì họ cầu xin nhân danh Giê-su (Giăng 15:16). Đức Chúa Trời sẽ không nghe và không chấp nhận bất cứ lời cầu nguyện nào dâng cho các hình tượng, các “thánh”, hay những lời cầu nguyện với những kinh “Kính mừng Ma-ri”, và những câu kinh lặp đi lặp lại (Ma-thi-ơ 6:5-8). Hơn nữa, Công-vụ các Sứ-đồ 4:12 có nói về Giê-su: “Chẳng có sự cứu-rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời chẳng có danh nào khác ban cho loài người để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu”.

8 Giê-su là “lẽ thật”. Sứ đồ Giăng nói về ngài: “Ngôi-Lời đã trở nên xác-thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh-hiển của Ngài, thật như vinh-hiển của Con một đến từ Cha” (Giăng 1:14). Giê-su đã trở nên sự thật của hằng trăm lời tiên tri trong Kinh-thánh phần tiếng Hê-bơ-rơ vì ngài làm ứng nghiệm những lời ấy (II Cô-rinh-tô 1:20; Khải-huyền 19:10). Ngài bày tỏ lẽ thật ra khi nói chuyện với các môn đồ và với đám đông người lắng nghe cuộc lý luận của ngài với hàng giáo phẩm giả hình. Đồng thời ngài cũng cho người khác biết lẽ thật qua lối sống gương mẫu của ngài.

9 Giê-su là “sự sống”. Với tư cách là Con của Đức Chúa Trời, Giê-su nói: “Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh-nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó” (Giăng 3:36). Thực hành đức tin nơi sự hy sinh của Giê-su đưa đến sự sống đời đời, sự sống bất tử trên trời cho “bầy nhỏ” gồm các tín đồ đấng Christ được xức dầu và sự sống bất tận trong địa-đàng trên đất cho một đám đông các “chiên khác” (Lu-ca 12:32; 23:43; Giăng 10:16).

Chịu đựng sự bắt bớ

10. Tại sao chúng ta phải “thắng thế-gian” và Giê-su ban lời khích lệ nào về vấn đề này?

10 Những ai hy vọng được sống trong hệ thống mới của Đức Giê-hô-va phải phấn đấu với thế gian đang “phục dưới quyền ma-quỉ” (I Giăng 5:19). Lời của Giê-su nơi Giăng 15:17-19 thật là khích lệ. Ngài tuyên bố: “Ta truyền cho các ngươi những điều-răn đó, đặng các ngươi yêu-mến lẫn nhau vậy. Ví bằng người đời ghét các ngươi, thì hãy biết rằng họ đã ghét ta trước các ngươi. Nếu các ngươi thuộc về thế-gian, thì người đời sẽ yêu kẻ thuộc về mình; nhưng các ngươi không thuộc về thế-gian và ta đã lựa chọn các ngươi giữa thế-gian, bởi cớ đó người đời ghét các ngươi”. Tín đồ thật của đấng Christ đã bị thù ghét từ xưa cho đến năm 1993 này, và chúng ta vui mừng biết bao khi thấy các gương mẫu tốt lành của những người tiếp tục đứng vững, khiêm nhường tìm kiếm sức mạnh nơi cánh tay quyền năng của Đức Chúa Trời! (I Phi-e-rơ 5:6-10). Tất cả chúng ta có thể chịu đựng được những thử thách bằng cách thực hành đức tin nơi Giê-su. Ngài đã kết luận bằng những lời ấm lòng này: “Các ngươi sẽ có hoạn-nạn trong thế-gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế-gian rồi!” (Giăng 16:33).

Bắt đầu một giao ước mới

11. Giê-rê-mi tiên tri điều gì liên hệ đến giao ước mới?

11 Buổi tối hôm ấy, khi lễ Vượt-qua vừa chấm dứt, Giê-su nói về một giao ước mới. Nhiều thế kỷ trước đó, nhà tiên tri Giê-rê-mi đã báo cho biết trước về giao ước này: “Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ lập một giao-ước với nhà Y-sơ-ra-ên và với nhà Giu-đa...Ta sẽ đặt luật-pháp trong bụng chúng nó và chép vào lòng. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta...Ta sẽ tha sự gian-ác chúng nó, và chẳng nhớ tội chúng nó nữa” (Giê-rê-mi 31:31-34). Đến ngày 14 Ni-san năm 33 công nguyên, của lễ hy sinh đã được dâng để ban hiệu lực cho giao ước mới này!

12. Giê-su đã thành lập giao ước mới như thế nào và giao ước ấy thực hiện được điều gì?

12 Giê-su nói với 11 sứ đồ trung thành rằng ngài rất muốn ăn lễ Vượt qua này với họ. Sau đó, ngài cầm lấy bánh, tạ ơn xong rồi bẻ bánh trao cho họ và phán rằng: “Nầy là thân-thể ta, đã vì các ngươi mà phó cho; hãy làm sự này để nhớ đến ta”. Lần nữa cùng thể ấy, ngài chuyền chén rượu đỏ cho họ mà phán rằng: “Chén này là giao-ước mới trong huyết ta vì các ngươi mà đổ ra...” (Lu-ca 22:15, 19, 20). Giao ước mới có hiệu lực nhờ “huyết báu” của Giê-su, là huyết có giá trị vượt hẳn huyết con sinh tế thời xưa được đổ ra để ban hiệu lực cho giao ước Luật pháp của Y-sơ-ra-ên! (I Phi-e-rơ 1:19; Hê-bơ-rơ 9:13, 14). Những ai có phần trong giao ước mới này được vui hưởng sự tha thứ tội lỗi cách trọn vẹn. Vì thế, họ hội đủ điều kiện để dự phần trong số 144.000 người sẽ được thừa kế đời đời với tư cách là Y-sơ-ra-ên thiêng liêng (Ga-la-ti 6:16; Hê-bơ-rơ 9:15-18; 13:20; Khải-huyền 14:1).

“Để nhớ đến ta”

13. a) Chúng ta nên suy gẫm về điều gì trong kỳ Lễ Kỷ niệm? b) Chỉ có ai mới nên dự phần vào việc ăn bánh, uống rượu và tại sao?

13 Ngày Lễ Kỷ niệm thường niên về sự chết của Giê-su lần thứ 1961, nhằm ngày 6 tháng 4 năm 1993. Nhân dịp lễ ấy sắp đến, chúng ta cần nên suy gẫm về tất cả những điều mà của lễ hy sinh hoàn toàn của Giê-su đã thực hiện được. Sự sắp đặt này làm nổi bật sự khôn ngoan và tình yêu thương sâu xa của Đức Giê-hô-va đối với nhân loại. Sự trung kiên trọn vẹn của Giê-su, ngay cả đến sự chết đau đớn của ngài đã biện minh cho Đức Giê-hô-va, vì Sa-tan thách thức rằng loài người do Ngài sáng tạo sẽ bất trung thành và sẽ đầu hàng khi bị thử thách (Gióp 1:8-11; Châm-ngôn 27:11). Với huyết hy sinh của ngài, Giê-su làm trung bảo cho giao ước mới. Giao ước ấy là phương tiện mà Đức Giê-hô-va dùng để tuyển ra “dòng-giống được lựa-chọn, là chức thầy tế-lễ nhà vua, là dân thánh, là dân thuộc về Đức Chúa Trời”. Khi còn trên đất, những người này “rao giảng nhơn-đức” của Đức Chúa Trời Giê-hô-va là Đấng ‘gọi họ ra khỏi nơi tối-tăm, đến nơi sáng-láng lạ-lùng của Ngài’. (I Phi-e-rơ 2:9; so sánh Xuất Ê-díp-tô Ký 19:5, 6). Thế thì chỉ có họ mới xứng đáng dự phần vào việc ăn bánh và uống rượu trong ngày Lễ Kỷ niệm hàng năm.

14. Hàng triệu người đến quan sát được lợi ích thế nào?

14 Vào ngày Lễ Kỷ niệm năm 1992, có 11.431.171 người hiện diện trên toàn thế giới, trong số này chỉ có 8.683 người—ít hơn 1/1000 so với số người hiện diện—đã ăn bánh và uống rượu. Vậy thì buổi lễ này có ích lợi gì cho hàng triệu người đến để quan sát? Hiển nhiên là có ích lợi lớn! Dù không dự phần ăn bánh uống rượu, họ được bồi dưỡng về thiêng liêng nhờ kết hợp với hiệp hội anh em trên khắp thế giới trong lúc họ nghe nói về tất cả công trình vĩ đại mà Đức Giê-hô-va thực hiện nhờ sự hy sinh của Con Ngài.

15. Ngoài những người xức dầu, những người khác được lợi ích thế nào về sự hy sinh của Giê-su?

15 Hơn nữa, sứ đồ Giăng cho chúng ta biết nơi I Giăng 2:1, 2: “Chúng ta có Đấng cầu thay ở nơi Đức Chúa Cha, là Đức Chúa Giê-su Christ, tức là Đấng công-bình. Ấy chính Ngài làm của-lễ chuộc tội-lỗi chúng ta, không những vì tội-lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội-lỗi cả thế-gian nữa”. Đúng vậy, sự hy sinh của Giê-su vừa mang lại lợi ích trước nhất cho lớp người Giăng để được dự phần vào giao ước mới, vừa mang lại sự tha thứ cho “tội-lỗi của cả thế-gian”. Đó là “của-lễ chuộc tội” cho tội lỗi của những người khác trên thế gian thực hành đức tin nơi sự đổ máu của Giê-su và điều này tạo cơ hội cho họ có triển vọng sống đời đời trong địa-đàng trên đất (Ma-thi-ơ 20:28).

“Trong nước của Cha ta”

16. a) Hiện nay, Giê-su và những người đồng kế tự của ngài dường như cùng đang hưởng được điều gì? b) Ngày nay, những người xức dầu còn sót lại và đám đông cần phải có gì?

16 Để tiếp tục khuyến khích các môn đồ, Giê-su dùng lời lẽ tượng trưng nói về ngày mà ngài sẽ uống nước nho mới trong Nước Cha ngài (Ma-thi-ơ 26:29). Ngài nói với họ: “Còn như các ngươi, đã bền lòng theo ta trong mọi thử-thách ta, nên ta ban nước cho các ngươi, cũng như Cha ta đã ban cho ta vậy, để các ngươi được ăn-uống chung bàn trong nước ta, và được ngồi ngai để xét-đoán mười hai chi-phái Y-sơ-ra-ên” (Lu-ca 22:28-30). Từ khi Giê-su nắm quyền Nước Trời vào năm 1914, chúng ta có thể kết luận rằng đa số những người đồng kế tự của Giê-su được thâu nhóm qua nhiều thế kỷ nay được sống lại rồi để “ngồi ngai” cùng với ngài (I Tê-sa-lô-ni-ca 4:15, 16). Ngày mà các thiên sứ thả bốn hướng gió của “cơn đại-nạn” nay đã gần kề rồi! Đến lúc ấy, việc đóng ấn số 144.000 Y-sơ-ra-ên thiêng liêng và việc thâu góp hàng triệu người thuộc đám đông sẽ hoàn tất. Tất cả những người này phải giữ được lòng trung kiên như Giê-su vậy thì mới có thể nhận được phần thưởng là sự sống đời đời (Khải-huyền 2:10; 7:1-4, 9).

17. và khung. a) Nếu một người bị sa thải vì bất trung, thì điều hợp lý là ai có thể thay thế cho người ấy? b) Bài Tháp Canh năm 1938 tỏa tia sáng nào đáng chú ý về việc thành lập và sau đó về việc mở rộng tổ chức thần quyền trên đất?

17 Nếu một số người không giữ được lòng trung kiên thì sao? Đến giờ phút cuối này, số người bất trung như thế chắc chắn là ít lắm. Nếu trường hợp ấy xảy ra, điều hợp lý là người được chọn để thay thế không thể là người mới làm báp têm, nhưng phải là trong số những người đã bền lòng với Giê-su trong nhiều thử thách qua nhiều năm trung thành phụng sự. Tạp chí Tháp Canh trong hai thập niên 1920 và 1930 đã chiếu những tia sáng thiêng liêng chói rực cho biết cuộc thâu góp những người xức dầu còn sót lại hầu như đã hoàn tất trong giai đoạn ấy. Những người “đã giặt và phiếu áo trắng mình trong huyết Chiên Con” từ đó trở đi có một hy vọng vui mừng khác. Qua đấng Christ, thánh linh của Đức Giê-hô-va hướng dẫn họ đến “suối nước sự sống” trong vườn địa-đàng trên đất (Khải-huyền 7:10, 14, 17).

Lời cầu nguyện tha thiết nhất

18. Chúng ta học được những bài học đáng ghi nhớ nào qua lời cầu nguyện của Giê-su nơi Giăng đoạn 17?

18 Giê-su kết thúc buổi Lễ Kỷ niệm với các môn đồ của ngài bằng lời cầu nguyện tha thiết được ghi lại nơi Giăng 17:1-26. Trước hết, ngài cầu xin Cha làm vinh hiển ngài trong khi ngài giữ vững sự trung kiên cho đến cuối cùng. Bằng cách này Đức Giê-hô-va cũng sẽ được vinh hiển, danh Ngài được thánh, được tẩy sạch khỏi mọi sỉ nhục. Vì quả là như vậy, người hoàn toàn Giê-su đã chứng tỏ rằng con người được Đức Chúa Trời sáng tạo có thể giữ sự trọn vẹn ngay cả khi bị thử thách nghiêm trọng nhất (Phục-truyền Luật-lệ Ký 32:4, 5; Hê-bơ-rơ 4:15). Hơn nữa, sự chết hy sinh của Giê-su tạo một cơ hội lớn lao cho con cháu của A-đam. Giê-su nói: “Vả, sự sống đời đời là nhìn biết Cha, tức là Đức Chúa Trời có một và thật, cùng Giê-su Christ là Đấng Cha đã sai đến”. Vậy, thật trọng yếu biết bao để thâu thập sự hiểu biết chính xác về Đức Chúa Trời Giê-hô-va và Con Ngài, tức Chiên Con của Đức Chúa Trời, đấng đã dâng sự sống mình để biện minh cho Đức Giê-hô-va và cứu rỗi nhân loại! (Giăng 1:29; I Phi-e-rơ 2:22-24). Bạn có biết ơn về sự hy sinh cực độ đầy yêu thương ấy tới mức mà bạn muốn dâng tất cả những gì thuộc về bạn cho Đức Giê-hô-va và cho công việc phụng sự cao quí Ngài không?

19. Làm sao những người còn sót lại và đám đông có thể vui hưởng sự hợp nhất quí báu?

19 Hơn nữa, Giê-su cầu nguyện xin Cha Thánh của ngài gìn giữ các môn đồ trong lúc họ chứng tỏ rằng họ không thuộc về thế gian, họ bám sát theo Lời của Ngài là lẽ thật và gìn giữ sự hiệp một với Cha và Con. Phải chăng lời cầu nguyện này đã được trả lời môt cách tuyệt diệu cho đến ngày nay, khi những người xức dầu còn sót lại và đám đông cùng nhau phụng sự hợp nhất trong tình yêu thương, đồng thời cũng giữ sự trung lập đối với thế gian, trước sự bạo động và gian ác trong đó? Những lời kết luận của Giê-su dâng lên Cha ngài Đức Giê-hô-va thật quí giá biết bao! Giê-su nói: “Con đã tỏ danh Cha ra cho họ, Con lại sẽ tỏ ra nữa, để cho tình yêu-thương của Cha dùng yêu-thương Con ở trong họ, và chính mình Con cũng ở trong họ nữa” (Giăng 17:14, 16, 26).

20. Tại sao ngày 14 Ni-san năm 33 công nguyên chắc chắn là ngày đáng ghi nhớ?

20 Lúc đi ra khỏi vườn Ghết-sê-ma-nê, Giê-su có thêm một dịp ngắn ngủi để khuyến khích các môn đồ. Rồi sau đó, kẻ thù đến vây bắt ngài! Không lời nào có thể diễn tả được nỗi đau đớn về thể xác, nỗi buồn nát lòng của Giê-su khi thấy sự sỉ nhục cho Đức Giê-hô-va, và cũng không từ ngữ nào tả được lòng trung kiên gương mẫu của ngài trong suốt cuộc thử thách này. Giê-su chịu đựng cho đến cuối cùng, qua suốt đêm đó và cho gần cả trọn ngày hôm sau. Với hơi thở cuối cùng ngài kêu to lên: “Mọi việc đã được trọn!” (Giăng 18:36, 37; 19:30). Ngài đã hoàn tất cuộc chiến thắng thế gian này. Ngày 14 Ni-san năm 33 công nguyên chắc chắn phải là ngày đáng ghi nhớ làm sao!

[Chú thích]

a Ngày chiến thắng tại Âu Châu và Ngày chiến thắng Nhật Bản.

Bạn sẽ trả lời thế nào?

◻ Giê-su dạy gì về sự khiêm nhường và tình yêu thương?

◻ Giê-su đã trở thành “đường đi, lẽ thật và sự sống” như thế nào?

◻ Mục đích của giao ước mới là gì?

◻ Những người xức dầu còn sót lại và đám đông cùng đang hưởng sự hợp nhất và tình yêu thương nào?

[Khung nơi trang 20]

Sự khôn ngoan của Sa-lô-môn Lớn

Những bài có tựa đề “Tổ chức” trong tạp chí Tháp Canh (Anh-ngữ) số ra ngày 1 tháng 6 và ngày 15 tháng 6 năm 1938 đã thiết lập một căn bản thần quyền mà Nhân-chứng Giê-hô-va noi theo cho đến ngày nay. Những bài báo này đạt đến tột đỉnh của thời kỳ đáng ghi nhớ bao gồm việc điều chỉnh lại các giáo lý và cách tổ chức bắt đầu từ năm 1919 (Ê-sai 60:17). Khi so sánh giai đoạn 20 năm đó với 20 năm mà vua Sa-lô-môn xây cất đền thờ và cung điện vua tại thành Giê-ru-sa-lem, số Tháp Canh đó nói: “Kinh-thánh cho thấy rằng sau chương trình xây cất 20 năm...vua Sa-lô-môn đã bắt đầu chương trình xây cất trên toàn quốc (I Các Vua 9:10, 17-23; II Sử-ký 8:1-10). Rồi thì nữ vương nước Sê-ba ‘từ nơi cùng trái đất đến nghe lời khôn-ngoan của Sa-lô-môn’ (Ma-thi-ơ 12:42; I Các Vua 10:1-10; II Sử-ký 9:1-9, 12). Sự kiện này đưa ra một câu hỏi: Tương lai gần đây dành gì cho dân tộc Đức Giê-hô-va trên đất? Với lòng tin cậy trọn vẹn chúng ta chờ đợi rồi sẽ thấy”. Sự tin cậy đó không bị đặt sai chỗ, dưới sự hướng dẫn của tổ chức thần quyền, một chương trình xây cất thiêng liêng rộng lớn trên khắp thế giới đã gom góp được một đám đông với hơn bốn triệu người. Giống như nữ vương nước Sê-ba, những người này đã đến từ nhiều nơi ở đầu cùng trái đất để nghe lời khôn ngoan của Sa-lô-môn Lớn, tức Giê-su Christ, qua trung gian của “đầy-tớ trung-tín và khôn-ngoan” (Ma-thi-ơ 24:45-47).

    Ấn phẩm Tiếng Việt (1984-2026)
    Đăng xuất
    Đăng nhập
    • Việt
    • Chia sẻ
    • Tùy chỉnh
    • Copyright © 2026 Watch Tower Bible and Tract Society of Pennsylvania
    • Điều khoản sử dụng
    • Quyền riêng tư
    • Cài đặt quyền riêng tư
    • JW.ORG
    • Đăng nhập
    Chia sẻ