THƯ VIỆN TRỰC TUYẾN Tháp Canh
Tháp Canh
THƯ VIỆN TRỰC TUYẾN
Việt
  • KINH THÁNH
  • ẤN PHẨM
  • NHÓM HỌP
  • w26 tháng 04 trg 2-7
  • Đức Giê-hô-va huấn luyện tôi từ khi còn trẻ

Không có video nào cho phần được chọn.

Có lỗi trong việc tải video.

  • Đức Giê-hô-va huấn luyện tôi từ khi còn trẻ
  • Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va (Ấn bản học hỏi)—2026
  • Tiểu đề
  • Tài liệu liên quan
  • TIẾP TỤC ĐƯỢC HUẤN LUYỆN
  • CÔNG VIỆC TIÊN PHONG MANG LẠI NIỀM VUI
  • ĐẾN SENEGAL
  • LÀM TIÊN PHONG Ở NEW BRUNSWICK VÀ QUEBEC
  • NHỚ ĐẾN NHỮNG ANH CHỊ LÀM VIỆC KHÓ NHỌC
  • HỌC TỪ CÁC ANH TRUNG THÀNH
  • CHUYỂN ĐẾN HOA KỲ
  • Nhận vô vàn ân phước nhờ học từ những gương tốt
    Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va (Ấn bản học hỏi)—2020
  • Quan tâm đến người khác mang lại lợi ích lâu dài
    Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va (Ấn bản học hỏi)—2023
  • Huấn luyện người rao truyền Nước Trời
    Nước Đức Chúa Trời đang cai trị!
  • Quyết định đúng mang lại ân phước suốt đời
    Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—2007
Xem thêm
Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va (Ấn bản học hỏi)—2026
w26 tháng 04 trg 2-7
Anh David Splane đang làm việc tại bàn.

CÂU CHUYỆN CUỘC ĐỜI

Đức Giê-hô-va huấn luyện tôi từ khi còn trẻ

DO ANH DAVID SPLANE KỂ LẠI

Tôi ngạc nhiên khi nhìn vào tờ giấy mà một anh đưa cho mình. Trên đó ghi: “David Splane, ngày 8 tháng 4 năm 1953: ‘Rao truyền về ngày Ha-ma-ghê-đôn’”. Tôi hỏi anh: “Giấy gì vậy anh?”. Anh ấy đáp: “Đây là bài giảng em sẽ trình bày trong Trường Thánh Chức Thần Quyền”.a Tôi bèn nói: “Nhưng em đâu có đăng ký vào trường!”.

Trước khi tiếp tục câu chuyện, tôi xin kể lại từ đầu về cuộc đời mình. Tôi sinh ra trong Thế Chiến II ở Calgary, Canada. Cuối thập niên 1940, một anh tiên phong trẻ tên là Donald Fraser gõ cửa nhà tôi, và mẹ tôi đồng ý tìm hiểu Kinh Thánh. Bà yêu mến chân lý, nhưng vì có những vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe nên bà không thể hoạt động tích cực trong hội thánh. Dù vậy, bà đã tiến bộ đến bước báp-têm vào năm 1950. Đáng buồn là chưa đến hai năm sau, mẹ tôi qua đời. Lúc ấy, cha tôi là người chưa tin đạo, nhưng ông đồng ý để cho một anh Nhân Chứng trình bày diễn văn tang lễ cho bà.

Vài ngày sau, một chị lớn tuổi được xức dầu tên là Alice mời tôi tham dự buổi nhóm họp. Chị biết tôi vì tôi thường đi nhóm với mẹ vào những cuối tuần mà mẹ cảm thấy khỏe. Tôi xin phép cha cho mình đi. Cha đồng ý và quyết định cùng đi với tôi “chỉ một lần” để cảm ơn anh đã làm diễn văn tang lễ cho mẹ. Tối đó là Trường Thánh Chức Thần Quyền và Buổi họp công tác, và đó là buổi nhóm họp tuyệt vời nhất mà cha tôi tham dự. Ông từng tham gia khóa học nói trước công chúng và rất ấn tượng về những bài giảng tại buổi nhóm họp. Ông quyết định tham dự buổi nhóm họp ấy mỗi tuần. Dần dần, ông tham dự tất cả các buổi nhóm họp.

Thời đó, tôi tớ của Trường Thánh Chức Thần Quyền sẽ bắt đầu buổi nhóm bằng cách đọc tên những người đã tham gia trường, và mỗi người trả lời: “Có”. Một tối nọ, tôi xin anh tôi tớ đọc tên mình vào buổi nhóm họp kế tiếp. Anh vui vẻ khen tôi nhưng không hỏi xem tôi có hiểu điều đó nghĩa là gì hay không.

Tôi không hề biết là mình đang tình nguyện làm bài giảng trong trường. Tôi chỉ muốn tên mình được đọc lên thôi! Tuần sau đó, khi được đọc tên, tôi dõng dạc đáp: “Có”. Sau buổi nhóm, các anh chị khen tôi. Vài tuần sau, tôi nhận được bài giảng đầu tiên như đã đề cập ở đầu bài.

Tôi rất sợ! Thời đó, học viên cần chuẩn bị bài giảng dài từ sáu đến tám phút. Không có bài đọc Kinh Thánh. Cha tôi giúp tôi chuẩn bị và bắt tôi tập 20 lần trước khi trình bày. Sau đó, anh tôi tớ đã đưa ra lời khuyên hữu ích. Theo thời gian, Đức Giê-hô-va đã huấn luyện tôi qua cha tôi, các anh chị thành thục và tổ chức của ngài.

TIẾP TỤC ĐƯỢC HUẤN LUYỆN

Chị Alice, được đề cập ở trên, đã huấn luyện tôi khi tôi mới tham gia thánh chức. Thời đó, chúng tôi được khuyến khích đọc ba câu Kinh Thánh cho chủ nhà và mời nhận một sách bìa. Khi đến lượt tôi rao giảng, chị Alice tự giới thiệu về mình, bắt đầu cuộc trò chuyện, rồi mời tôi đọc câu Kinh Thánh đầu tiên. Sau đó, tôi tiếp tục trình bày, đọc câu Kinh Thánh thứ hai và thứ ba, rồi mời nhận ấn phẩm. Sau này, tôi biết cách tự giới thiệu ngay từ khi bắt chuyện. Sau khi báp-têm vào cuối năm 1954, cha tôi tiếp tục huấn luyện tôi trong thánh chức. Là người cha đơn thân, ông cố gắng hết sức để nuôi dạy tôi trong chân lý. Các hoạt động thần quyền rất quan trọng với ông. Tôi luôn biết chúng tôi sẽ làm gì vào những buổi tối có nhóm họp cũng như vào sáng thứ Bảy và Chủ Nhật.

Tôi chỉ là học sinh trung bình ở trường, nhưng một số điều mà tôi học được trong 12 năm ấy đã mang lại lợi ích cho cả cuộc đời tôi. Chẳng hạn, tôi học cách cộng những dãy số dài. Tôi cũng có nền tảng khá vững về ngữ pháp tiếng Anh. Môn tiếng Anh và lớp viết văn đã giúp tôi rất nhiều trong công việc hiện tại ở Ban Biên tập.

Người khác thường hỏi tại sao tôi yêu âm nhạc. Cả cha lẫn mẹ tôi đều yêu âm nhạc. Năm bảy tuổi, tôi học piano một thời gian, nhưng giáo viên dạy nhạc nghĩ tôi không có năng khiếu. Cô đề nghị với cha là cho tôi nghỉ học. Tôi có thể hiểu lý do, vì lúc đó tôi không có mục tiêu.

Vài tháng sau, cha tôi tìm một giáo viên khác. Lần này, tôi học cả piano lẫn hát, và tôi giỏi cả hai. Tôi là bé trai có thể hát với giọng cao và đạt được một số giải thưởng. Mục tiêu của tôi là lấy bằng âm nhạc để có thể dạy nhạc và nuôi bản thân khi làm thánh chức trọn thời gian. Tuy nhiên, khi gần lấy được bằng âm nhạc, tôi nhận ra mình sẽ phải dành nhiều thời gian học để thi về hòa âm, lịch sử âm nhạc và sáng tác. Thế nên, tôi ngừng học nhạc và bắt đầu làm tiên phong đều đều. Đó là năm 1963.

CÔNG VIỆC TIÊN PHONG MANG LẠI NIỀM VUI

Sau khi làm tiên phong được một năm, tôi được bổ nhiệm làm tiên phong đặc biệt ở Kapuskasing, Ontario. Bạn tiên phong của tôi là anh Daniel Skinner, lớn hơn tôi nhiều tuổi. Anh dạy tôi nhiều điều về cách hội thánh được tổ chức. Tôi phục vụ trong Ủy ban Công tác Hội thánh năm 20 tuổi, nên có nhiều điều phải học. Tôi rất hào hứng khi hiện nay tổ chức của chúng ta một lần nữa nhấn mạnh việc huấn luyện các anh trẻ. Nếu siêng năng phục vụ, họ sẽ hữu dụng với Đức Giê-hô-va ngay cả khi còn trẻ!

Kapuskasing có những khó khăn riêng. Vào mùa đông, nhiệt độ có thể xuống âm 44 độ C, hoặc thỉnh thoảng “ấm” hơn là âm 33 độ C. Hầu như đi đâu anh Daniel và tôi cũng đi bộ. Nhưng một trong những niềm vui lớn nhất ở nhiệm sở này là được gặp chị Linda Cole, người sau này trở thành vợ tôi.

Linda là một người công bố sốt sắng và có nhiều thăm lại tốt. Cô ấy rộng rãi, tử tế và thân thiện. Mẹ của Linda tên là Goldie là một chị trung thành. Cha của Linda tên là Allen và ban đầu ông chống đối chân lý. Dù vậy, mẹ của Linda vẫn đều đặn dẫn cô ấy cùng hai em trai, John và Gordon, đi nhóm họp và huấn luyện họ trong thánh chức. Qua thời gian, cả bốn người đều làm tiên phong. Nhiều năm sau, người cha cũng chấp nhận chân lý và sốt sắng hoạt động trong hội thánh.

Năm 1965, tôi được mời tham dự khóa học một tháng của Trường thánh chức Nước Trời tại nhà Bê-tên Canada để được huấn luyện thêm. Tại trường ấy, tôi được mời điền đơn tham dự Trường Ga-la-át. Tôi chưa từng nghĩ mình hội đủ điều kiện để làm giáo sĩ, nhưng vẫn điền đơn. Sau đó, tôi được mời tham dự khóa thứ 42. Các giảng viên của Trường Ga-la-át thường đưa cho chúng tôi bảng đánh giá học tập của mình. Trong bảng đánh giá đầu tiên, các giảng viên khuyến khích tôi tìm hiểu mọi điều có thể về tổ chức trong thời gian học trường này. Tôi mới 21 tuổi, nên đó quả là lời khuyên khôn ngoan.

Ở Trường Ga-la-át, chúng tôi cũng học cách làm việc với các đài phát thanh, truyền hình và báo chí. Tôi rất thích học về điều đó. Khi ấy, tôi chưa nhận ra lợi ích to lớn của sự huấn luyện đó trong tương lai, như tôi sẽ giải thích sau.

ĐẾN SENEGAL

Vài ngày sau khi tốt nghiệp, người bạn giáo sĩ của tôi là anh Michael Höhle cùng tôi đi đến nhiệm sở nước ngoài là Senegal, châu Phi. Lúc đó, có khoảng 100 người công bố trong nước ấy.

Vài tháng sau khi đến nhiệm sở, tôi được mời làm việc ở văn phòng chi nhánh một ngày một tuần. “Văn phòng chi nhánh” chỉ là một phòng trong nhà giáo sĩ. Dù văn phòng khiêm tốn như thế, nhưng tôi tớ chi nhánh là anh Emmanuel Paterakis luôn nhắc tôi nhớ rằng văn phòng ấy đại diện cho tổ chức của Đức Giê-hô-va ở Senegal. Ngày nọ, anh Paterakis quyết định là chúng tôi nên viết một lá thư khích lệ các giáo sĩ. Vào thời đó, việc in các bản sao rất đắt tiền. Thế nên, chúng tôi đã phải đánh máy từng lá thư. Đó là một công việc vất vả, đặc biệt vì chúng tôi phải đảm bảo là không mắc một lỗi nào!

Trước khi tôi về nhà trễ vào tối đó, anh Paterakis đưa cho tôi một phong bì. Anh nói: “Anh David, Hội gửi thư cho anh”. Sau đó, khi mở thư ra, tôi nhận ra đó chính là lá thư mình đánh máy! Điều đó dạy tôi tôn trọng tổ chức dù văn phòng địa phương nhỏ hay lớn thế nào đi nữa.

Anh David Splane và một nhóm anh chị tươi cười chụp hình.

Với các giáo sĩ ở Senegal, năm 1967

Tôi làm bạn với nhiều anh chị trong hội thánh và thường dành thời gian với họ vào tối thứ Bảy. Đó là khoảng thời gian vui vẻ! Chúng tôi vẫn còn giữ liên lạc với nhau. Cho đến nay, tôi có thể dùng tiếng Pháp mình học được ở Senegal khi đi thăm các chi nhánh trên thế giới.

Năm 1968, tôi và Linda đính hôn. Vài tháng sau, tôi tìm một công việc bán thời gian để chúng tôi có thể cùng nhau làm tiên phong ở Senegal, nhưng những người chủ ở đó muốn thuê người địa phương hơn là người nước ngoài. Cuối cùng, sau khi tôi trở lại Canada, chúng tôi kết hôn và nhận nhiệm sở tiên phong đặc biệt ở Edmundston, tỉnh New Brunswick. Edmundston là thành phố nhỏ nằm sát tỉnh Quebec.

Anh David Splane và chị Linda Splane tươi cười trên một lối đi đầy hoa.

Ngày cưới của chúng tôi, năm 1969

LÀM TIÊN PHONG Ở NEW BRUNSWICK VÀ QUEBEC

Trong thành phố Edmundston, không có người công bố nào và có ít học hỏi Kinh Thánh. Đạo Công giáo ảnh hưởng đến hầu hết mọi khía cạnh của đời sống người dân. Hầu như mỗi nhà đều có bảng “Miễn tiếp Nhân Chứng Giê-hô-va”. Thời đó, việc tôn trọng các bảng ấy chưa được nhấn mạnh nhiều như bây giờ, nên chúng tôi vẫn đến nhà dù có bảng hay không. Mỗi tuần, một tổ chức thuộc Công giáo đăng trên báo địa phương: “Hãy săn tìm bọn phù thủy Nhân Chứng Giê-hô-va”. Trong thành phố, chỉ có bốn “phù thủy”: anh Victor Norberg, chị Velda Norberg, Linda và tôi. Thế nên, chúng tôi biết rõ họ nói về ai!

Tôi không bao giờ quên lần viếng thăm đầu tiên của giám thị vòng quanh. Sau khi ở lại với chúng tôi một tuần, anh nói: “Có lẽ điều tốt nhất mà anh chị có thể làm trong thời gian ở đây là phá đổ thành kiến”. Kể từ khi ấy, việc đó trở thành mục tiêu của chúng tôi, và có kết quả! Dần dần, người ta nhận ra sự khác biệt giữa những Nhân Chứng khiêm nhường và các nhà lãnh đạo tôn giáo kiêu ngạo. Hiện nay, có một hội thánh nhỏ trong thành phố ấy.

Sau khoảng một năm trong nhiệm sở hẻo lánh, chúng tôi được mời đến hỗ trợ một hội thánh lớn ở thành phố Quebec. Chúng tôi có sáu tháng kết hợp vui vẻ với các anh chị giàu lòng hiếu khách ở đó trước khi được mời làm công việc lưu động.

Suốt 14 năm sau đó, chúng tôi phục vụ trong các vòng quanh ở tỉnh Quebec. Đó là khoảng thời gian hào hứng! Công việc rao giảng ở đấy gặt hái nhiều kết quả tốt, và thường trong một hội thánh có vài gia đình tiến bộ đến bước báp-têm!

NHỚ ĐẾN NHỮNG ANH CHỊ LÀM VIỆC KHÓ NHỌC

Những anh chị người Canada gốc Pháp rất đáng mến. Họ thẳng thắn, vui vẻ và nhiệt huyết. Tuy nhiên, lúc đầu không luôn dễ để họ nhận chân lý, và gia đình họ có thể chống đối dữ dội. Một số anh chị trẻ bị cha mẹ không tin đạo đe dọa: “Một là ngưng học Kinh Thánh với Nhân Chứng Giê-hô-va, hai là ra khỏi nhà!”. Dù vậy, rất ít người chiều theo áp lực đó. Đức Giê-hô-va hẳn rất tự hào về họ!

Thật thiếu sót nếu tôi không nhắc đến các anh chị tiên phong đều đều và tiên phong đặc biệt phụng sự ở Quebec trong những năm đó! Phần lớn họ đến từ những vùng khác của Canada. Ngoài việc học thành thạo tiếng Pháp, họ phải tập làm quen với văn hóa và lối suy nghĩ bị ảnh hưởng nhiều bởi Công giáo.

Các tiên phong đặc biệt thường được chỉ định đến những khu vực hẻo lánh không có người công bố. Vì người địa phương có thành kiến, nên họ khó tìm được chỗ ở và thậm chí là công việc bán thời gian. Ngay cả các cặp vợ chồng mới cưới cũng phải sống chung với nhóm bốn, sáu hoặc tám người để chia tiền thuê nhà. Họ không thể nào tự thuê nhà riêng. Những tiên phong sốt sắng này luôn siêng năng trong thánh chức. Khi có một cuộc học hỏi, họ dồn mọi nỗ lực cho học viên. Hiện nay, Quebec có nhiều người công bố địa phương, nên nhiều tiên phong đã đi đến những nơi khác có nhu cầu lớn hơn.

Khi đến thăm các hội thánh trong vòng quanh, chúng tôi thường cố gắng đi thánh chức với các em tuổi thanh thiếu niên vào sáng thứ Bảy. Nhờ thế, chúng tôi biết các em đang đương đầu với thử thách nào. Một số em mà chúng tôi đi cùng hiện đang làm giáo sĩ hoặc nhận những nhiệm sở khác.

Vào thời đó, một số hội thánh không thể hoàn trả chi phí đi lại cho chúng tôi nên đôi khi cuối tháng là chúng tôi hết tiền. Những lần như thế, chúng tôi hoàn toàn nương cậy Đức Giê-hô-va, vì ngài là đấng duy nhất biết hoàn cảnh của chúng tôi. Ngài không bao giờ bỏ rơi chúng tôi. Bằng cách nào đó, chúng tôi luôn có thể di chuyển từ hội thánh này đến hội thánh kế tiếp.

HỌC TỪ CÁC ANH TRUNG THÀNH

Như đã nói ở trên, tôi nhận được rất nhiều lợi ích nhờ học cách làm việc với các báo đài khi ở Trường Ga-la-át. Vào thời đó ở Quebec, chúng ta có nhiều cơ hội để làm chứng trên đài phát thanh, truyền hình và báo chí. Tôi thường được phân công làm việc với anh Léonce Crépeault, một giám thị lưu động rất giỏi làm việc với truyền thông. Khi nói chuyện với lãnh đạo cấp cao trong ngành báo chí, anh không cố phô trương sự hiểu biết của mình mà sẽ nói: “Thưa ông, bạn tôi và tôi chỉ là những người truyền giáo. Chúng tôi không giỏi nói trên truyền thông. Nhưng chúng tôi được giao nhiệm vụ thông báo cho mọi người biết về một đại hội lớn của Nhân Chứng Giê-hô-va. Chúng tôi rất biết ơn về bất cứ sự giúp đỡ nào từ phía ông”. Nhờ sự khiêm nhường của anh mà nhiều báo đài đã sẵn sàng giúp đỡ chúng ta.

Sau đó, chi nhánh sắp xếp cho tôi làm việc với một luật sư của chúng ta là anh Glen How về những vụ kiện thu hút giới truyền thông. Tôi đã nhận được nhiều lợi ích từ sự huấn luyện ở Ga-la-át và kinh nghiệm với anh Léonce. Được làm việc với anh How cũng là đặc ân cho tôi. Anh không hề nao núng khi bênh vực tổ chức về mặt pháp lý, và trên hết, anh yêu thương Đức Giê-hô-va sâu đậm.

Năm 1985, chúng tôi nhận nhiệm sở là một vòng quanh gần nhà cha tôi ở miền tây Canada, nhờ vậy chúng tôi có thể giúp chăm sóc ông. Cha tôi qua đời ba tháng sau đó. Chúng tôi tiếp tục phụng sự trong công tác vòng quanh ở miền tây Canada đến năm 1989, khi chúng tôi nhận được lời mời bất ngờ là vào Bê-tên Hoa Kỳ. Điều này có nghĩa là chúng tôi ngừng công tác lưu động sau 19 năm. Trong những năm đó, chúng tôi đã ở hàng trăm ngôi nhà và dùng hàng ngàn bữa ăn với các anh chị hiếu khách. Chúng tôi vô cùng biết ơn những anh chị đã mở cửa nhà họ và mời chúng tôi dùng bữa!

CHUYỂN ĐẾN HOA KỲ

Khi đến Brooklyn, tôi được bổ nhiệm làm việc trong Ban Công tác. Tôi luôn quý trọng sự huấn luyện ở đó. Một bài học tôi rút ra là đừng nghĩ rằng mình hiểu rõ điều gì đó trước khi biết mọi thông tin. Rồi vào năm 1998, tôi được chuyển sang Ban Biên tập, nơi mà tôi vẫn đang học cách viết bài. Trong vài năm, tôi có đặc ân được phụ giúp anh John Barr, anh điều phối của Ban Biên tập. Tôi thật biết ơn sự huấn luyện đó và khoảng thời gian tôi có với anh. Anh có những phẩm chất tuyệt vời của tín đồ đạo Đấng Ki-tô.

Anh David Splane và chị Linda Splane chụp hình cùng anh John Barr và chị Mildred Barr.

Với anh John Barr và chị Mildred Barr

Thật vui khi được chung vai sát cánh làm việc với những anh chị khiêm nhường trong Ban Biên tập! Họ luôn cầu xin Đức Giê-hô-va giúp mình thực hiện công việc và nhận biết rằng bất cứ thành quả nào đạt được đều là nhờ thần khí thánh, chứ không phải tài năng của mình.

Anh David Splane chỉ huy dàn hợp xướng của Hội Tháp Canh gồm 20 anh chị trong khi một chị chơi đàn piano.

Chỉ huy dàn hợp xướng của Hội Tháp Canh tại phiên họp thường niên năm 2009

Anh David Splane vui mừng đưa Kinh Thánh cho một chị.

Đưa Kinh Thánh cho các anh chị tại đại hội quốc tế năm 2014 ở Seoul, Hàn Quốc

Vợ chồng tôi có đặc ân được đến thăm anh em trong 110 nước. Chúng tôi được chứng kiến các giáo sĩ, thành viên Ủy ban Chi nhánh và những anh chị phụng sự trọn thời gian khác thể hiện tình yêu thương với Đức Giê-hô-va. Ngoài ra, chúng tôi cũng thấy được lòng sốt sắng và kiên định của các anh chị công bố địa phương, những người đặt Nước Trời lên hàng đầu bất kể chiến tranh, khó khăn kinh tế và sự ngược đãi. Chắc chắn Đức Giê-hô-va yêu thương họ rất nhiều!

Nhiều năm qua, Linda đã giúp tôi rất nhiều để hoàn thành các nhiệm vụ của mình. Cô ấy thật sự là người thân thiện và luôn tìm cách giúp đỡ người khác. Cô ấy cũng rất giỏi bắt chuyện. Cô ấy đã giúp nhiều người học về Đức Giê-hô-va, và giúp một số người ngưng hoạt động trở lại với ngài. Linda thật sự là món quà quý đến từ Đức Giê-hô-va! Khi càng lớn tuổi, vợ chồng tôi càng biết ơn sự hỗ trợ thiết thực của những anh chị trẻ hơn.—Mác 10:​29, 30.

Nhìn lại 80 năm qua, tôi vô cùng biết ơn. Tôi đồng ý với người viết Thi thiên: “Lạy Đức Chúa Trời, ngài đã dạy con từ thuở còn trẻ, đến nay con vẫn truyền ra công việc diệu kỳ của ngài” (Thi 71:17). Bao lâu còn sống, bấy lâu tôi muốn tiếp tục làm thế.

a Ngày nay, sự huấn luyện này là một phần trong buổi họp giữa tuần.

    Ấn phẩm Tiếng Việt (1984-2026)
    Đăng xuất
    Đăng nhập
    • Việt
    • Chia sẻ
    • Tùy chỉnh
    • Copyright © 2026 Watch Tower Bible and Tract Society of Pennsylvania
    • Điều khoản sử dụng
    • Quyền riêng tư
    • Cài đặt quyền riêng tư
    • JW.ORG
    • Đăng nhập
    Chia sẻ