THƯ VIỆN TRỰC TUYẾN Tháp Canh
Tháp Canh
THƯ VIỆN TRỰC TUYẾN
Việt
  • KINH THÁNH
  • ẤN PHẨM
  • NHÓM HỌP
  • w02 15/6 trg 8-11
  • Có một điều còn quý hơn châu báu xứ Ê-díp-tô

Không có video nào cho phần được chọn.

Có lỗi trong việc tải video.

  • Có một điều còn quý hơn châu báu xứ Ê-díp-tô
  • Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—2002
  • Tiểu đề
  • Tài liệu liên quan
  • Nô lệ ở Ê-díp-tô
  • Được giấu đi, vớt lên và nhận làm con nuôi
  • Môi trường dưỡng dục và học vấn
  • Một quyết định trọng đại
  • Môi-se chọn thờ phượng Đức Giê-hô-va
    Bài học từ Kinh Thánh
  • Môi-se—Nhân vật có thật hay huyền thoại?
    Tỉnh Thức!: Môi-se—Nhân vật có thật hay huyền thoại?
  • Hãy học biết đường lối Đức Giê-hô-va
    Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—2005
  • Tại sao Môi-se chạy trốn?
    Sách kể chuyện Kinh Thánh
Xem thêm
Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—2002
w02 15/6 trg 8-11

Có một điều còn quý hơn châu báu xứ Ê-díp-tô

MÔI-SE nằm trong số những khuôn mặt lớn nhất trong lịch sử. Bốn sách của Kinh Thánh—từ sách Xuất Ê-díp-tô Ký đến Phục-truyền Luật-lệ Ký—hầu như chỉ tường thuật về cách Đức Chúa Trời đối xử với dân Y-sơ-ra-ên dưới sự lãnh đạo của Môi-se. Ông hướng dẫn cuộc xuất hành ra khỏi xứ Ê-díp-tô, làm trung gian giao ước Luật Pháp, và dẫn dân Y-sơ-ra-ên tới biên giới Đất Hứa. Môi-se lớn lên trong nhà Pha-ra-ôn, nhưng ông trở thành một vị chỉ huy có quyền hành trong dân sự Đức Chúa Trời, cũng như làm nhà tiên tri, quan xét và người viết Kinh Thánh được soi dẫn. Song, ông cũng “là người rất khiêm-hòa hơn mọi người trên thế-gian”.—Dân-số Ký 12:3.

Phần lớn những chi tiết Kinh Thánh nói về Môi-se đều liên quan đến 40 năm cuối cùng trong đời ông, tính từ lúc dân Y-sơ-ra-ên thoát ách nô lệ đến khi ông qua đời lúc 120 tuổi. Từ 40 đến 80 tuổi, ông là người chăn chiên ở Ma-đi-an. Nhưng, theo một nguồn tài liệu, “có lẽ phần cuộc đời gay cấn nhất nhưng cũng ít được nói đến nhất” là 40 năm đầu trong đời, từ lúc sinh ra đến lúc chạy trốn khỏi xứ Ê-díp-tô. Chúng ta có thể nhận biết gì về khoảng thời gian này? Hoàn cảnh dưỡng dục của ông đã ảnh hưởng thế nào đến việc ông trở thành một người như thế? Ông đã chịu những ảnh hưởng nào? Ông phải đối diện với những khó khăn nào? Và tất cả những điều này có thể dạy chúng ta điều gì?

Nô lệ ở Ê-díp-tô

Sách Xuất Ê-díp-tô Ký kể lại rằng một Pha-ra-ôn bắt đầu sợ dân Y-sơ-ra-ên định cư ở Ê-díp-tô vì dân này sanh sôi nhanh chóng. Tin rằng mình hành động “khôn-ngoan”, ông định mưu làm giảm số dân bằng cách áp bức bắt họ làm nô lệ dưới những cái roi của đốc công—gánh vác nặng nề, làm gạch bằng bùn, và phải làm đủ số đã định mỗi ngày.—Xuất Ê-díp-tô Ký 1:8-14; 5:6-18.

Đây là hình ảnh xứ Ê-díp-tô vào lúc Môi-se ra đời. Hình ảnh này rất phù hợp với bằng chứng lịch sử. Bản thảo cổ xưa viết trên giấy cói và ít nhất một bức tranh trên ngôi mộ miêu tả việc những người nô lệ vào thế kỷ thứ hai TCN hoặc trước đó chế tạo gạch bùn. Các viên chức có trách nhiệm cung cấp gạch tổ chức hàng trăm toán nô lệ thành những nhóm từ 6 đến 18 người dưới sự trông coi của một đốc công hay là trưởng nhóm. Phải đào bùn và chuyên chở rơm đến chỗ làm gạch. Nhân công thuộc các quốc gia khác nhau kéo nước, và dùng xẻng để trộn nước với bùn và rơm. Hết hàng gạch này đến hàng gạch khác được sản xuất từ những khuôn hình chữ nhật. Rồi nhân công gánh những viên gạch phơi khô dưới ánh nắng mặt trời đến công trường xây cất, đôi khi phải qua một đoạn đường dốc. Các quan cai người Ê-díp-tô trang bị với dùi cui, ngồi trông nô lệ làm việc hoặc đi tới đi lui giữa họ.

Một tài liệu kế toán cổ nói đến 39.118 viên gạch do 602 nhân công làm ra, tính trung bình một người đàn ông làm 65 viên gạch trong mỗi ca lao động. Một tài liệu có từ thế kỷ 13 TCN nói: “Hàng ngày bọn đàn ông làm đủ... số gạch như quy định”. Tất cả những điều này rất giống như việc cưỡng bách lao động của dân Y-sơ-ra-ên được miêu tả trong sách Xuất Ê-díp-tô Ký.

Sự áp bức không làm cho người Hê-bơ-rơ giảm dân số. Trái lại, “người Ê-díp-tô càng bắt làm khó-nhọc chừng nào, dân Y-sơ-ra-ên càng thêm nhiều lên... Người Ê-díp-tô bèn đem lòng ghen-ghét dân Y-sơ-ra-ên”. (Xuất Ê-díp-tô Ký 1:10, 12) Bởi vậy, Pha-ra-ôn ra lệnh trước hết cho các bà mụ Hê-bơ-rơ và sau đó cho cả dân mình phải giết chết mỗi bé sơ sinh trai người Y-sơ-ra-ên. Trong tình cảnh khủng khiếp ấy, Môi-se, một bé trai kháu khỉnh, ra đời trong gia đình của cặp vợ chồng Am-ram và Giô-kê-bết.—Xuất Ê-díp-tô Ký 1:15-22; 6:20; Công-vụ 7:20.

Được giấu đi, vớt lên và nhận làm con nuôi

Cha mẹ của Môi-se không sợ lệnh hạ sát của Pha-ra-ôn và giấu đứa con trai đi. Có phải họ làm thế bất kể những kẻ gián điệp và thanh tra đi rảo chung quanh tìm bắt con nít? Chúng ta không thể nói chắc được. Dù sao chăng nữa, sau ba tháng, cha mẹ Môi-se không thể giấu giếm được nữa. Vì vậy, người mẹ tuyệt vọng mới bện một cái rương mây, trét chai cho không thấm nước, và đặt bé trai trong đó. Theo một nghĩa nào đó, bà cũng tuân lệnh vua là quăng mỗi đứa con trai sơ sinh người Hê-bơ-rơ xuống Sông Ni-lơ. Lúc ấy chị của Môi-se là Mi-ri-am đứng gần đó quan sát em bé.—Xuất Ê-díp-tô Ký 1:22–2:4.

Chúng ta không biết bà Giô-kê-bết có cố ý dàn cảnh để cho công chúa của Pha-ra-ôn vớt con trai bà lên khi đi tắm ở bờ sông hay không, nhưng chuyện đã xảy ra như thế. Công chúa hiểu ngay rằng đó là con trai của người Hê-bơ-rơ. Bà sẽ làm gì? Bà sẽ ra lệnh giết nó để tuân theo chiếu chỉ của cha hay không? Không, bà làm theo bản tính tự nhiên của hầu hết phụ nữ. Bà rủ lòng thương xót.

Lập tức Mi-ri-am xuất hiện. Cô bé hỏi: ‘Tôi phải đi kêu một người vú Hê-bơ-rơ đặng nuôi bú đứa trẻ này cho công chúa chớ?’ Một số người thấy chỗ này thật mỉa mai. Chị của Môi-se dám bạo gan cưỡng lại lệnh Pha-ra-ôn, người âm mưu cùng các cố vấn “dùng chước khôn-ngoan” để diệt người Hê-bơ-rơ. Dĩ nhiên, Môi-se được toàn mạng chỉ khi nào công chúa ưng thuận làm theo kế hoạch của chị ông. Công chúa Pha-ra-ôn đáp: “Hãy đi đi”. Lập tức Mi-ri-am về kêu mẹ đến. Trong một cuộc thỏa thuận lạ lùng, bà Giô-kê-bết được thuê để nuôi chính đứa con của mình dưới trướng của hoàng tộc.—Xuất Ê-díp-tô Ký 2:5-9.

Lòng trắc ẩn của công chúa chắc hẳn tương phản với lòng dạ độc ác của cha. Bà không phải là không biết, cũng không bị lừa dối về tông tích của em bé. Lòng thương hại nhiệt tình đã thúc đẩy công chúa nhận em bé làm con nuôi, và việc công chúa chấp nhận ý kiến mướn một bà vú người Hê-bơ-rơ cho thấy bà không có định kiến giống như cha.

Môi trường dưỡng dục và học vấn

Bà Giô-kê-bết “ẵm đứa trẻ mà cho bú. Khi lớn khôn rồi, người bèn dẫn nó vào cho công-chúa, nàng nhận làm con”. (Xuất Ê-díp-tô Ký 2:9, 10) Kinh Thánh không nói Môi-se sống được bao lâu với cha mẹ ruột của mình. Một số người nghĩ hẳn ông phải sống với cha mẹ ít nhất cho đến khi dứt sữa—hai hoặc ba tuổi gì đó—nhưng có thể hơn. Xuất Ê-díp-tô Ký chỉ giản dị nói đứa bé “lớn khôn”, hoặc “lớn lên” theo bản Nguyễn Thế Thuấn, với cha mẹ, điều này có thể có nghĩa cho tới bất cứ lứa tuổi nào. Dù sao chăng nữa, chắc chắn Am-ram và Giô-kê-bết đã dành ra thời gian nói cho con trai họ biết về gốc gác Hê-bơ-rơ của mình và dạy con biết về Đức Giê-hô-va. Chỉ có thời gian mới nói rõ họ thành công đến độ nào trong việc khắc ghi vào lòng Môi-se đức tin và lòng yêu thương đối với sự công bình.

Khi trở vào cung làm con nuôi của công chúa Pha-ra-ôn, Môi-se đã được thọ giáo “cả sự khôn-ngoan của người Ê-díp-tô”. (Công-vụ 7:22) Điều đó hẳn ngụ ý việc Môi-se được huấn luyện để đảm nhiệm việc triều chính. Kiến thức rộng rãi của xứ Ê-díp-tô gồm toán học, hình học, kiến trúc, xây dựng cùng các ngành khoa học và nghệ thuật khác. Có lẽ hoàng tộc cũng muốn ông học về tôn giáo của Ê-díp-tô.

Môi-se có lẽ được học chung với con cháu khác của hoàng tộc để nhận được nền giáo dục đặc biệt này. Trong số những người thụ huấn nền giáo dục ưu tú ấy có “các vương tử của vua chúa thuộc nước ngoài được cho sang du học hoặc bị bắt sang Ê-díp-tô làm con tin hầu được ‘khai hóa’ và rồi trở về cai trị các nước chư hầu” trung thành với Pha-ra-ôn. (The Reign of Thutmose IV, do Betsy M. Bryan) Các nhà trẻ nối với hoàng cung dường như đã đào tạo trẻ em sau này làm quan trong triều đình.a Những bản khắc có từ thời đại Ê-díp-tô Trung và Tân Vương Quốc cho thấy vài tùy viên cá nhân và quan chức cao cấp của Pha-ra-ôn vẫn giữ tước hiệu danh dự “Thần Đồng Nhà Trẻ” mãi cho tới lớn.

Đời sống trong cung điện đã thử thách Môi-se. Đời sống ấy cho ông cơ hội trở nên giàu có, xa hoa và quyền thế. Nó cũng dẫn đến nguy hiểm về đạo đức. Môi-se đã phản ứng thế nào? Ông sẽ trung thành với ai? Liệu ông có thật sự là một người thờ phượng Đức Giê-hô-va, một người anh em với người Hê-bơ-rơ bị hà hiếp, hay là ông thích mọi sự do nước Ê-díp-tô ngoại giáo ấy cống hiến hơn?

Một quyết định trọng đại

Vào lúc được 40 tuổi, lẽ ra Môi-se đã có thể trở thành một người Ê-díp-tô thuần túy, nhưng ông lại ‘đi ra xem công-việc nhọc-nhằn của anh em mình’. Những hành động kế tiếp của ông cho thấy đây không chỉ vì tính tò mò, mà ông mong muốn giúp đỡ họ. Khi thấy một người Ê-díp-tô đánh đập một người Hê-bơ-rơ, ông nhảy vào can thiệp, giết chết kẻ hà hiếp. Hành động ấy cho thấy lòng Môi-se ở cùng anh em mình. Kẻ bị giết rất có thể là một quan chức, bị giết khi đang thi hành nhiệm vụ. Dưới mắt người Ê-díp-tô , Môi-se hẳn đã có mọi lý do để trung thành với Pha-ra-ôn. Thế nhưng điều đã thúc đẩy Môi-se hành động cũng chính là lòng yêu chuộng công lý, một đức tính đã được thể hiện lần nữa khi vào ngày hôm sau ông khiển trách một người Hê-bơ-rơ bất công đánh người anh em mình. Môi-se ước muốn giải cứu người Hê-bơ-rơ ra khỏi vòng nô lệ khắc nghiệt, nhưng khi Pha-ra-ôn hay tin ông bất trung liền truy lùng để giết ông, Môi-se buộc lòng phải trốn đến Ma-đi-an.—Xuất Ê-díp-tô Ký 2:11-15; Công-vụ 7:23-29.b

Thời điểm mà Môi-se muốn giải cứu dân Đức Chúa Trời không phù hợp với kỳ định của Đức Giê-hô-va. Dù sao, hành động của ông vẫn cho thấy ông có đức tin. Hê-bơ-rơ 11:24-26 nói: “Bởi đức-tin, Môi-se lúc đã khôn-lớn, bỏ danh-hiệu mình là con trai của công-chúa Pha-ra-ôn, đành cùng dân Đức Chúa Trời chịu hà-hiếp hơn là tạm hưởng sự vui-sướng của tội-lỗi”. Tại sao? Vì “người coi sự sỉ-nhục về Đấng Christ là quí hơn của châu-báu xứ Ê-díp-tô, vì người ngửa trông sự ban-thưởng”. Cách dùng cụm từ “Đấng Christ” một cách khác thường ở đây, có nghĩa “người được xức dầu”, xứng hợp với Môi-se theo nghĩa là về sau ông trực tiếp nhận được sứ mệnh đặc biệt từ Đức Giê-hô-va.

Hãy thử nghĩ! Môi-se được dưỡng dục theo cách mà chỉ có giới quý tộc Ê-díp-tô mới có được. Địa vị của ông khiến ông có thể có được một sự nghiệp vẻ vang và đủ loại thú vui, vậy mà ông từ bỏ tất cả. Ông không thể nào hòa giải đời sống trong cung điện Pha-ra-ôn áp bức với lòng yêu thương đối với Đức Giê-hô-va và đối với công lý. Sự hiểu biết và suy ngẫm về những lời hứa của Đức Chúa Trời với các tổ phụ Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp đã khiến Môi-se thích được ân huệ của Đức Chúa Trời hơn. Kết quả là Đức Giê-hô-va có thể dùng Môi-se trong vai trò vô cùng quan trọng để thi hành ý định Ngài.

Tất cả chúng ta đều đứng trước những sự lựa chọn điều gì là quan trọng nhất. Giống như Môi-se, có lẽ bạn đứng trước một quyết định khó khăn. Liệu bạn có từ bỏ một số thực hành hoặc lợi lộc bề ngoài nào đó, bất luận phải trả giá bao nhiêu không? Nếu bạn phải chọn lựa, hãy nhớ rằng Môi-se xem tình bạn với Đức Giê-hô-va quý hơn mọi châu báu của xứ Ê-díp-tô, và ông đã không nuối tiếc.

[Chú thích]

a Nền giáo dục này có thể tương tự như nền giáo dục mà Đa-ni-ên và các bạn ông đã nhận được để trở thành công chức triều đình Ba-by-lôn. (Đa-ni-ên 1:3-7) So sánh sách Hãy chú ý đến lời tiên tri của Đa-ni-ên!, chương 3, do Nhân Chứng Giê-hô-va xuất bản.

b Sự kiện Môi-se sốt sắng vì công lý được chứng tỏ tiếp qua việc ông bênh vực những người nữ chăn chiên vô phương tự vệ khỏi sự ngược đãi ở Ma-đi-an, trong lúc ông chạy trốn.—Xuất Ê-díp-tô Ký 2:16, 17.

[Khung nơi trang 11]

Những hợp đồng vú nuôi

Thường thì người mẹ cho con mình bú. Tuy nhiên, học giả Brevard Childs nói trong sách Journal of Biblical Literature rằng “trong một số trường hợp giữa các gia đình quý tộc [ở Cận Đông] người ta thuê vú nuôi. Thực hành này cũng thông dụng khi người mẹ không thể cho con bú hoặc trong trường hợp mẹ bỏ rơi con. Người vú đảm trách nhiệm vụ nuôi nấng và cho đứa bé bú trong thời gian qui định”. Một số tờ hợp đồng thuê vú nuôi ghi trên giấy cói vẫn còn tồn tại từ thời xa xưa ở Cận Đông. Những văn tự này chứng thật đã từng có một thực hành phổ thông ở Ai Cập từ thời kỳ Sumer mãi cho đến giai đoạn chót của thời kỳ Hy Lạp. Những văn kiện này thường ghi tên người vú nuôi, thời hạn hợp đồng, điều kiện được thỏa thuận, chi tiết về cách dinh dưỡng, tiền phạt nếu làm sai hợp đồng, tiền lương và cách trả lương. Ông Childs giải thích rằng điển hình là “việc làm vú nuôi trong vòng hai hoặc ba năm. Bà vú nuôi dưỡng đứa bé trong nhà của mình nhưng thỉnh thoảng phải giao đứa bé lại cho cha mẹ nó để kiểm tra”.

[Các hình nơi trang 9]

Việc làm gạch ở Ê-díp-tô không thay đổi nhiều kể từ thời Môi-se, như bức tranh cổ cho thấy

[Nguồn tư liệu]

Bên trên: Pictorial Archive (Near Eastern History) Est.; bên dưới: Erich Lessing/Art Resource, NY

    Ấn phẩm Tiếng Việt (1984-2026)
    Đăng xuất
    Đăng nhập
    • Việt
    • Chia sẻ
    • Tùy chỉnh
    • Copyright © 2026 Watch Tower Bible and Tract Society of Pennsylvania
    • Điều khoản sử dụng
    • Quyền riêng tư
    • Cài đặt quyền riêng tư
    • JW.ORG
    • Đăng nhập
    Chia sẻ