THƯ VIỆN TRỰC TUYẾN Tháp Canh
Tháp Canh
THƯ VIỆN TRỰC TUYẾN
Việt
  • KINH THÁNH
  • ẤN PHẨM
  • NHÓM HỌP
  • w98 1/12 trg 8-13
  • Họ bị ghen ghét vì đức tin

Không có video nào cho phần được chọn.

Có lỗi trong việc tải video.

  • Họ bị ghen ghét vì đức tin
  • Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—1998
  • Tiểu đề
  • Tài liệu liên quan
  • “Phí-tổn” của việc làm môn đồ
  • Ghét và bị ghét
  • Ai ghét tín đồ Đấng Christ thời ban đầu?
  • Tại sao tín đồ Đấng Christ thời ban đầu bị ghen ghét trong thế giới La Mã?
  • Tín đồ Đấng Christ và xã hội ngày nay
    Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—1994
  • Bênh vực đức tin của chúng ta
    Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—1998
  • Tín đồ đấng Christ thời ban đầu và thế gian
    Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—1994
  • Tín đồ Đấng Christ thời ban đầu và Luật Pháp Môi-se
    Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—2003
Xem thêm
Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—1998
w98 1/12 trg 8-13

Họ bị ghen ghét vì đức tin

“Các ngươi lại sẽ bị thiên-hạ ghen-ghét vì danh ta” (MA-THI-Ơ 10:22).

1, 2. Bạn có thể kể ra vài kinh nghiệm có thật mà những Nhân-chứng Giê-hô-va đã trải qua khi thực hành tín ngưỡng của họ không?

MỘT người lương thiện, quản lý cửa hàng tại đảo Crete đã bị bắt và bị đưa ra tòa án Hy Lạp nhiều lần. Anh ở tù tổng cộng hơn sáu năm, xa vợ và năm con. Tại Nhật, một học sinh 17 tuổi bị đuổi khỏi trường, mặc dù cậu có hạnh kiểm tốt và đứng đầu lớp có 42 học sinh. Tại Pháp, nhiều người đã bị đuổi việc tức khắc, mặc dù họ có tiếng làm việc siêng năng và tận tâm. Những kinh nghiệm có thật này có điều gì giống nhau?

2 Tất cả những người nói trên đều là Nhân-chứng Giê-hô-va. Họ phạm “tội” gì? Cơ bản là họ muốn thực hành tín ngưỡng của họ. Vâng theo lời dạy dỗ của Chúa Giê-su Christ, người quản lý cửa hàng đã chia sẻ niềm tin với những người khác (Ma-thi-ơ 28:19, 20). Anh bị kết án chủ yếu dưới luật Hy Lạp xưa, luật này định rằng việc thu nạp tín đồ là một tội hình sự. Người học sinh bị đuổi học bởi vì lương tâm được Kinh-thánh rèn luyện không cho phép cậu tham gia vào môn học bắt buộc là tập luyện kendo (kiếm thuật của Nhật) (Ê-sai 2:4). Và những người ở Pháp được báo rằng lý do duy nhất mà họ bị đuổi việc là vì họ nhận mình là Nhân-chứng Giê-hô-va.

3. Tại sao phần nhiều Nhân-chứng Giê-hô-va ít khi trải qua sự khổ sở cùng cực do những người khác gây ra?

3 Những trường hợp nghiêm trọng như thế là điển hình cho những gì Nhân-chứng Giê-hô-va tại vài xứ đã trải qua gần đây. Tuy nhiên, phần nhiều Nhân-chứng Giê-hô-va ít khi trải qua sự khổ sở cùng cực do những người khác gây ra. Dân tộc của Đức Giê-hô-va được tiếng là có hạnh kiểm tốt, vì vậy không ai có lý do chính đáng để hại họ (1 Phi-e-rơ 2:11, 12). Họ không âm mưu hoặc làm những điều hại người khác (1 Phi-e-rơ 4:15). Trái lại, họ cố gắng sống theo lời khuyên của Kinh-thánh, trước hết vâng phục Đức Chúa Trời, và sau đó, những chính phủ thế tục. Họ trả thuế mà luật pháp đòi hỏi và cố gắng “hòa-thuận với mọi người” (Rô-ma 12:18; 13:6, 7; 1 Phi-e-rơ 2:13-17). Trong công việc dạy dỗ Kinh-thánh, họ khuyến khích người ta tôn trọng luật pháp, tiêu chuẩn đạo đức gia đình và luân thường đạo lý. Nhiều chính phủ đã khen họ là những công dân tôn trọng luật pháp (Rô-ma 13:3). Tuy vậy, như đoạn đầu cho thấy, đôi khi họ là mục tiêu của sự chống đối—tại vài xứ, chính phủ còn ngăn cấm họ hoạt động nữa. Những điều này có làm chúng ta ngạc nhiên không?

“Phí-tổn” của việc làm môn đồ

4. Theo Chúa Giê-su, một người có thể chờ đợi điều gì khi trở thành môn đồ của ngài?

4 Chúa Giê-su Christ nói rõ việc làm môn đồ của ngài bao hàm điều gì. Ngài nói với các môn đồ: “Đầy-tớ chẳng lớn hơn chủ mình. Nếu họ đã bắt-bớ ta, ắt cũng bắt-bớ các ngươi”. Chúa Giê-su cũng đã bị ghét “vô-cớ” (Giăng 15:18-20, 25; Thi-thiên 69:4; Lu-ca 23:22). Môn đồ ngài cũng sẽ như vậy—bị chống đối không có lý do chính đáng. Hơn một lần, ngài đã cảnh cáo họ: “Các ngươi lại sẽ bị... ghen-ghét” (Ma-thi-ơ 10:22; 24:9).

5, 6. a) Vì lý do gì Chúa Giê-su khuyến khích những môn đồ tương lai của ngài “tính phí-tổn”? b) Thế thì tại sao chúng ta không nên bối rối khi gặp chống đối?

5 Do đó, Chúa Giê-su đã khuyến khích những môn đồ tương lai của ngài “tính phí-tổn” của việc làm môn đồ (Lu-ca 14:28). Tại sao? Không phải để quyết định xem họ nên trở thành môn đồ hay không, nhưng để xem họ có làm tròn những điều mà việc này đòi hỏi hay không. Chúng ta phải chuẩn bị để chịu đựng bất cứ thử thách hoặc khó khăn nào có thể đi kèm với đặc ân này (Lu-ca 14:27). Không ai ép chúng ta phụng sự Đức Giê-hô-va với tư cách là môn đồ của Đấng Christ. Đây là một quyết định tự nguyện; và cũng là một quyết định có hiểu biết. Chúng ta biết trước rằng ngoài những ân phước mà chúng ta nhận được khi bước vào mối quan hệ với Đức Chúa Trời với tư cách một người đã dâng mình cho Ngài, chúng ta sẽ bị “ghen-ghét”. Vì vậy, chúng ta không bối rối khi gặp chống đối. Chúng ta đã “tính phí-tổn” và chuẩn bị đầy đủ để trả giá này (1 Phi-e-rơ 4:12-14).

6 Tại sao một số người, kể cả một số nhà cầm quyền, muốn chống đối những tín đồ thật của Đấng Christ? Để biết câu trả lời, chúng ta hãy xem xét hai nhóm tôn giáo trong thế kỷ thứ nhất. Cả hai đều bị ghét—nhưng vì những lý do khác hẳn nhau.

Ghét và bị ghét

7, 8. Những sự dạy dỗ nào phản ảnh sự khinh thường người ngoại, và vì vậy những người Do Thái đã nảy sinh thái độ nào?

7 Vào thế kỷ thứ nhất CN, nước Y-sơ-ra-ên bị La Mã cai trị, và đạo Do Thái, hệ thống tôn giáo Do Thái nói chung bị những nhà lãnh đạo tôn giáo như các thầy thông giáo và người Pha-ra-si áp chế (Ma-thi-ơ 23:2-4). Những nhà lãnh đạo cuồng tín này đã bóp méo nguyên tắc Luật Pháp Môi-se về việc tách biệt với các nước, rồi buộc dân khinh thường những người không phải Do Thái. Khi làm thế, họ tạo ra một tôn giáo khích động sự ghen ghét người ngoại và vì vậy họ đã bị những người ngoại thù ghét.

8 Không khó cho những nhà lãnh đạo tôn giáo Do Thái dạy dân khinh thường người ngoại, vì người Do Thái lúc bấy giờ xem người ngoại là hạng người đáng tởm. Những nhà lãnh đạo tôn giáo dạy rằng người đàn bà Do Thái không bao giờ được ở một mình với người ngoại, vì họ “bị nghi là có ý dâm dục”. Người đàn ông Do Thái phải tránh “ở một mình với họ vì họ bị tình nghi làm đổ máu”. Không được dùng sữa do một người ngoại vắt, trừ khi người Do Thái có mặt để xem họ vắt sữa. Vì chịu ảnh hưởng của các nhà lãnh đạo, dân Do Thái đã nảy sinh thái độ tách riêng ra và xem mình là nhất. (So sánh Giăng 4:9).

9. Những điều các nhà lãnh đạo Do Thái dạy về những người không phải là Do Thái đã gây ra hậu quả nào?

9 Những sự dạy dỗ như thế về những người không phải là Do Thái đã không khuyến khích người Do Thái có quan hệ tốt với người ngoại. Người ngoại xem người Do Thái là những người ghét toàn thể nhân loại. Sử gia La Mã Tacitus (sinh vào khoảng năm 56 CN) nói về những người Do Thái rằng “họ xem toàn thể nhân loại là kẻ thù đáng ghét”. Tacitus cũng cho rằng những người ngoại đổi sang đạo Do Thái đã được dạy phải từ bỏ xứ sở và xem gia đình cùng bạn bè của họ không đáng gì cả. Nói chung, người La Mã đã nhân nhượng người Do Thái, vì những người Do Thái đông đảo đáng sợ. Nhưng sự nổi loạn của dân Do Thái vào năm 66 CN đã khiến cho người La Mã trả thù một cách tàn khốc, đưa đến sự hủy diệt thành Giê-ru-sa-lem vào năm 70 CN.

10, 11. a) Luật Pháp Môi-se đòi hỏi đối xử với người ngoại quốc như thế nào? b) Chúng ta rút tỉa được bài học nào qua những gì xảy ra cho Do Thái Giáo?

10 Thái độ đó đối với người ngoại quốc khác với hình thức thờ phượng đề ra trong Luật Pháp Môi-se như thế nào? Luật Pháp đã đề xướng sự tách rời khỏi các nước, nhưng đó là vì muốn bảo vệ dân Y-sơ-ra-ên, nhất là sự thờ phượng trong sạch của họ (Giô-suê 23:6-8). Dù vậy, Luật Pháp đòi hỏi phải đối xử công bằng và chính trực với người ngoại và phải tiếp đãi họ, miễn là họ không trắng trợn bất tuân luật của Y-sơ-ra-ên (Lê-vi Ký 24:22). Qua việc không tuân theo tinh thần hợp lý rõ ràng trong Luật Pháp đối với người ngoại, những nhà lãnh đạo Do Thái Giáo trong thời Chúa Giê-su đã đưa ra một hình thức thờ phượng làm cho dân ghen ghét người ngoại và bị người ngoại ghét. Cuối cùng, nước Do Thái vào thế kỷ thứ nhất đã mất ân huệ của Đức Giê-hô-va (Ma-thi-ơ 23:38).

11 Điều này có cho chúng ta một bài học không? Hẳn là có! Thái độ tự coi mình là công bình và trịch thượng, khinh rẻ những người không có cùng tín ngưỡng với mình thì không tiêu biểu cho sự thờ phượng thanh sạch của Đức Giê-hô-va và cũng không làm đẹp lòng Ngài. Hãy xem xét những tín đồ Đấng Christ trung thành trong thế kỷ thứ nhất. Họ không ghét những người không phải là tín đồ Đấng Christ, và cũng không nổi lên chống lại La Mã. Tuy nhiên, họ lại bị “ghen-ghét”. Tại sao? Và ai đã ghét họ?

Ai ghét tín đồ Đấng Christ thời ban đầu?

12. Kinh-thánh nói rõ ràng như thế nào về việc Chúa Giê-su muốn môn đồ ngài có quan điểm thăng bằng về những người không phải là tín đồ Đấng Christ?

12 Qua sự dạy dỗ của Chúa Giê-su, rõ ràng là ngài muốn các môn đồ có quan điểm thăng bằng về những người không phải là tín đồ Đấng Christ. Một mặt, ngài nói với môn đồ phải tách rời thế gian—nghĩa là họ phải từ bỏ thái độ và hạnh kiểm trái nghịch với đường lối công bình của Đức Giê-hô-va. Họ phải giữ trung lập trong những vấn đề chiến tranh và chính trị (Giăng 17:14, 16). Mặt khác, chẳng những không dạy môn đồ khinh bỉ những người không phải là tín đồ Đấng Christ, Chúa Giê-su còn bảo họ phải “yêu kẻ thù-nghịch” (Ma-thi-ơ 5:44). Sứ đồ Phao-lô khuyến khích tín đồ Đấng Christ: “Nếu kẻ thù mình có đói, hãy cho ăn; có khát, hãy cho uống” (Rô-ma 12:20). Ông cũng bảo các tín đồ Đấng Christ “hãy làm điều thiện cho mọi người” (Ga-la-ti 6:10).

13. Tại sao những nhà lãnh đạo tôn giáo Do Thái rất chống đối môn đồ của Đấng Christ?

13 Nhưng ít lâu sau, các môn đồ của Đấng Christ thấy mình bị ba nhóm người “ghen-ghét”. Thứ nhất là các nhà lãnh đạo tôn giáo Do Thái. Các tín đồ Đấng Christ lập tức bị họ chú ý thì cũng chẳng lạ gì! Các tín đồ có tiêu chuẩn cao về đạo đức và sự trung kiên, và họ sốt sắng rao giảng thông điệp đầy hy vọng. Hàng ngàn người đã từ bỏ Do Thái Giáo để theo đạo Đấng Christ (Công-vụ các Sứ-đồ 2:41; 4:4; 6:7). Vì vậy, những người lãnh đạo tôn giáo Do Thái xem những môn đồ Do Thái của Chúa Giê-su không hơn gì những kẻ bội đạo! (So sánh Công-vụ các Sứ-đồ 13:45). Những người lãnh đạo lòng đầy tức giận này cảm thấy rằng đạo Đấng Christ đã vô hiệu hóa truyền thống của họ, và còn phản đối quan điểm của họ về người ngoại nữa! Từ năm 36 CN trở đi, dân ngoại cũng có thể trở thành tín đồ Đấng Christ, có cùng đức tin và có những đặc ân trong đạo Đấng Christ cũng như những người Do Thái (Công-vụ các Sứ-đồ 10:34, 35).

14, 15. a) Tại sao tín đồ Đấng Christ bị những người thờ phượng ngoại giáo ghen ghét? Hãy cho một thí dụ. b) Tín đồ Đấng Christ thời ban đầu đã bị nhóm thứ ba nào “ghen-ghét”?

14 Thứ hai, tín đồ Đấng Christ đã bị những người thờ phượng ngoại giáo ghen ghét. Thí dụ, tại thành Ê-phê-sô xưa, việc làm miếu nhỏ bằng bạc của nữ thần Đi-anh là một nghề sinh lợi rất nhiều. Nhưng khi Phao-lô rao giảng ở đó, khá nhiều người Ê-phê-sô đã hưởng ứng, và không thờ Đi-anh nữa. Vì nghề nghiệp bị đe dọa, những thợ bạc dấy loạn (Công-vụ các Sứ-đồ 19:24-41). Chuyện tương tự cũng đã xảy ra sau khi đạo Đấng Christ lan rộng đến Bithynia (bây giờ là tây bắc Thổ Nhĩ Kỳ). Chẳng bao lâu sau khi Kinh-thánh phần tiếng Hy Lạp được hoàn tất, tổng trấn Bithynia là Pliny the Younger đã báo cáo rằng các đền thờ ngoại giáo bị bỏ hoang và việc bán thức ăn cho thú vật dùng để tế thần đã giảm rất nhiều. Các tín đồ Đấng Christ đã bị buộc tội và bắt bớ, bởi vì sự thờ phượng của họ không cho dùng thú vật để tế thần và không dùng hình tượng (Hê-bơ-rơ 10:1-9; 1 Giăng 5:21). Rõ ràng là việc bành trướng đạo Đấng Christ ảnh hưởng đến những mối lợi có liên quan đến sự thờ phượng ngoại giáo, và những người mất cả nghề lẫn tiền đâm ra căm hận.

15 Thứ ba, tín đồ Đấng Christ bị người La Mã yêu nước “ghen-ghét”. Lúc đầu, đối với người La Mã, tín đồ Đấng Christ là một nhóm tôn giáo nhỏ và có lẽ cuồng tín. Nhưng với thời gian, chỉ nhận mình là tín đồ Đấng Christ cũng đáng tội chết. Tại sao những công dân lương thiện theo lối sống đạo Đấng Christ lại bị coi là những người đáng bị bắt bớ và đáng chết?

Tại sao tín đồ Đấng Christ thời ban đầu bị ghen ghét trong thế giới La Mã?

16. Bằng cách nào tín đồ Đấng Christ tách rời khỏi thế gian và tại sao điều này đã làm cho họ không được ưa chuộng trong thế giới La Mã?

16 Lý do chính khiến cho tín đồ Đấng Christ bị ghen ghét trong thế giới La Mã là vì họ thực hành tín ngưỡng của họ. Thí dụ, họ đã tách rời khỏi thế gian (Giăng 15:19). Vì vậy, họ đã không có chân trong chính trị, và họ từ chối nghĩa vụ quân sự. Do đó, theo sử gia Augustus Neander, họ “bị xem là những người chết đối với thế gian và vô dụng cho mọi sinh hoạt trong đời sống”. Không thuộc về thế gian cũng có nghĩa là tránh những đường lối xấu xa của thế giới La Mã bại hoại. Sử gia Will Durant giải thích: “Thế gian ngoại giáo chỉ biết thèm thuồng khoái lạc đã khó chịu vì lòng mộ đạo và phép lịch sự của các cộng đồng nhỏ tín đồ Đấng Christ” (1 Phi-e-rơ 4:3, 4). Bằng cách bắt bớ và xử tử tín đồ Đấng Christ, người La Mã có lẽ đã cố gắng dìm đi tiếng nói của lương tâm.

17. Điều gì cho thấy công việc rao giảng của tín đồ Đấng Christ vào thế kỷ thứ nhất là hữu hiệu?

17 Tín đồ Đấng Christ vào thế kỷ thứ nhất rao giảng tin mừng về Nước Đức Chúa Trời với lòng sốt sắng kiên trì (Ma-thi-ơ 24:14). Vào khoảng năm 60 CN, Phao-lô có thể nói rằng tin mừng đã được “giảng ra giữa mọi vật dựng nên ở dưới trời” (Cô-lô-se 1:23). Đến cuối thế kỷ thứ nhất, môn đồ Chúa Giê-su đã đào tạo môn đồ khắp Đế Quốc La Mã—tại Á Châu, Âu Châu và Phi Châu! Ngay cả một số “người nhà Sê-sa” đã trở thành tín đồ Đấng Christa (Phi-líp 4:22). Sự rao giảng sốt sắng này đã gây ra sự phẫn uất. Ông Neander nói: “Đạo Đấng Christ đã tăng tiến trong vòng dân chúng thuộc mọi thành phần, đe dọa lật đổ quốc giáo”.

18. Hầu việc chỉ một mình Đức Giê-hô-va đã khiến cho tín đồ Đấng Christ xung đột với chính quyền La Mã như thế nào?

18 Môn đồ của Chúa Giê-su chỉ hầu việc một mình Đức Giê-hô-va (Ma-thi-ơ 4:8-10). Có lẽ khía cạnh này của sự thờ phượng, hơn bất cứ điều gì khác, đã khiến cho họ xung đột với La Mã. Người La Mã nhân nhượng những tôn giáo khác, miễn là những tín đồ của họ cũng dự phần vào việc thờ hoàng đế. Tín đồ Đấng Christ thời ban đầu hoàn toàn không thể tham dự vào sự thờ phượng như thế. Họ tự xem mình phải khai trình với một quyền hành cao hơn Nhà Nước La Mã, đó là Giê-hô-va Đức Chúa Trời (Công-vụ các Sứ-đồ 5:29). Do đó, dù tín đồ Đấng Christ là một công dân tốt cách mấy trong mọi khía cạnh khác, người ấy vẫn bị xem là kẻ thù của Nhà Nước.

19, 20. a) Ai chịu trách nhiệm phần lớn về những lời vu khống ác độc về những tín đồ trung thành của Đấng Christ? b) Có những lời buộc tội giả dối nào chống lại tín đồ Đấng Christ?

19 Còn có một lý do khác cho biết tại sao tín đồ trung thành của Đấng Christ lại bị “ghen-ghét” trong thế giới La Mã: Lời vu khống ác độc về họ dễ được người ta tin và những nhà lãnh đạo tôn giáo Do Thái phải chịu trách nhiệm phần lớn về những lời buộc tội đó (Công-vụ các Sứ-đồ 17:5-8). Vào khoảng năm 60 hoặc 61 CN, khi Phao-lô đang ở La Mã đợi Hoàng Đế Nero xét xử, thì những người lãnh đạo Do Thái đã nói về tín đồ Đấng Christ: “Về phần đạo nầy, chúng tôi biết người ta hay chống-nghịch khắp mọi nơi” (Công-vụ các Sứ-đồ 28:22). Nero chắc hẳn đã nghe những câu chuyện vu khống về họ. Vào năm 64 CN, khi người ta đổ lỗi cho Nero đốt thành La Mã, có lời kể rằng Nero đã đổ tội cho tín đồ Đấng Christ, là những người sẵn mang tiếng xấu rồi. Điều này dường như đã gây ra một làn sóng bắt bớ dữ dội để diệt trừ tín đồ Đấng Christ.

20 Những lời buộc tội giả dối chống lại tín đồ Đấng Christ thường là sự pha trộn những lời xuyên tạc trắng trợn và sự bóp méo tín ngưỡng của họ. Bởi vì họ thờ một thần và không thờ hoàng đế, họ mang tiếng là vô thần. Vì một số người trong gia đình không theo đạo Đấng Christ chống lại những thân nhân theo đạo, nên các tín đồ đã bị buộc tội là phá hoại gia đình (Ma-thi-ơ 10:21). Họ bị cho là những người ăn thịt người, vài nguồn tài liệu nói rằng lời buộc tội này đã dựa trên sự bóp méo lời của Chúa Giê-su nói trong Bữa Tiệc Thánh của Chúa (Ma-thi-ơ 26:26-28).

21. Tín đồ Đấng Christ bị “ghen-ghét” vì hai lý do nào?

21 Vì vậy, tín đồ trung thành của Đấng Christ bị người La Mã “ghen-ghét” bởi vì hai lý do căn bản: 1) tín ngưỡng và những thực hành của họ dựa trên Kinh-thánh, và 2) những lời giả dối buộc tội họ. Bất kể lý do là gì, những người chống đối chỉ có một mục tiêu—đè bẹp đạo Đấng Christ. Dĩ nhiên, những kẻ thật sự chủ động việc bắt bớ tín đồ Đấng Christ là kẻ chống đối siêu hình, các ác thần vô hình (Ê-phê-sô 6:12).

22. a) Thí dụ nào cho thấy Nhân-chứng Giê-hô-va cố gắng “làm điều thiện cho mọi người”? (Xem khung nơi trang 11). b) Bài tới sẽ bàn luận về điều gì?

22 Như những tín đồ Đấng Christ thời ban đầu, Nhân-chứng Giê-hô-va ngày nay bị “ghen-ghét” trong nhiều nước. Nhưng họ không ghét những người không phải là Nhân-chứng; và họ cũng không hề phát động sự nổi dậy chống chính phủ. Trái lại, họ có tiếng trên khắp thế giới là những người thực hành tình yêu thương chân chính, tình thương này vượt qua hàng rào xã hội, chủng tộc và sắc tộc. Vậy thì tại sao họ bị bắt bớ? Và họ đã phản ứng thế nào trước sự chống đối? Những câu hỏi này sẽ được bàn luận trong bài tới.

[Chú thích]

a Từ ngữ “người nhà Sê-sa” không nhất thiết có nghĩa là những người trong hoàng tộc của hoàng đế đương kim Nero. Thay vì thế, từ này có lẽ áp dụng cho người hầu việc trong cung và các viên chức nhỏ, có lẽ làm việc trong nội cung như nấu ăn và lau dọn cho hoàng tộc và toàn ban hầu cận hoàng tộc.

Bạn trả lời thế nào?

◻ Tại sao Chúa Giê-su khuyến khích các môn đồ tương lai tính phí tổn của việc làm môn đồ?

◻ Quan điểm phổ thông về những người không phải là Do Thái đã mang lại hậu quả nào cho Do Thái Giáo, và chúng ta rút tỉa được điều gì qua sự kiện đó?

◻ Tín đồ trung thành của Đấng Christ thời ban đầu đã bị ba nhóm người nào chống đối?

◻ Người La Mã “ghen-ghét” tín đồ Đấng Christ thời ban đầu vì những lý do căn bản nào?

[Khung nơi trang 11]

“Làm điều thiện cho mọi người”

Nhân-chứng Giê-hô-va cố gắng theo lời khuyên của Kinh-thánh là “làm điều thiện cho mọi người” (Ga-la-ti 6:10). Vào những lúc cần, tình yêu thương đối với người đồng loại đã thúc đẩy họ giúp những người không có cùng quan điểm tôn giáo với họ. Thí dụ, khi tai ương xảy ra tại Rwanda năm 1994, Nhân-chứng ở Âu Châu đã tình nguyện đến Phi Châu để giúp công cuộc cứu trợ. Họ tổ chức kỹ và nhanh chóng dựng lên các trại tạm cư và bệnh xá để giúp đỡ anh em. Một số lượng lớn gồm thực phẩm, quần áo, và chăn mền đã được chở đến bằng máy bay. Số người tị nạn hưởng lợi ích từ sự giúp đỡ này gấp ba lần số Nhân-chứng trong vùng đó.

[Hình nơi trang 9]

Tín đồ Đấng Christ trong thế kỷ thứ nhất rao giảng tin mừng với lòng sốt sắng kiên trì

    Ấn phẩm Tiếng Việt (1984-2026)
    Đăng xuất
    Đăng nhập
    • Việt
    • Chia sẻ
    • Tùy chỉnh
    • Copyright © 2026 Watch Tower Bible and Tract Society of Pennsylvania
    • Điều khoản sử dụng
    • Quyền riêng tư
    • Cài đặt quyền riêng tư
    • JW.ORG
    • Đăng nhập
    Chia sẻ