Đức Chúa Trời đòi hỏi gì nơi chúng ta?
“Vì nầy là sự yêu-mến Đức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng-giữ điều-răn Ngài. Điều-răn của Ngài chẳng phải là nặng-nề” (I GIĂNG 5:3).
1, 2. Tại sao chúng ta không ngạc nhiên khi Đức Chúa Trời đưa ra điều kiện cho những ai muốn thờ phượng ngài theo cách mà ngài chấp nhận?
“TÔI có đạo rồi”! Có phải người ta thường nói như thế không? Nhưng thật ra thì người ta nên hỏi: “Đạo của tôi có làm vừa lòng Đức Chúa Trời không?” Vâng, Đức Chúa Trời có ra điều kiện cho những ai muốn thờ phượng ngài theo cách mà ngài chấp nhận. Điều đó có làm chúng ta ngạc nhiên không? Thật ra thì không. Giả sử bạn làm chủ một ngôi nhà xinh xắn mà bạn vừa mới bỏ ra nhiều tiền để sửa sang lại. Liệu bạn có cho bất cứ ai vào đó ở không? Dĩ nhiên là không! Ai muốn vào đó ở đều phải hội đủ điều kiện của bạn.
2 Cũng thế, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho gia đình nhân loại chỗ ở trên đất. Dưới sự cai trị của Nước Trời, trái đất sắp được “sửa sang”—trở thành một địa đàng xinh đẹp. Đức Giê-hô-va sẽ thực hiện điều này. Ngài phải chịu nhiều mất mát để điều này có thể xảy ra được, tức là ban cho loài người Con độc sanh của ngài. Chắc chắn Đức Chúa Trời phải ra điều kiện cho những ai sẽ sống trong địa đàng ấy! (Thi-thiên 115:16; Ma-thi-ơ 6:9, 10; Giăng 3:16)
3. Sa-lô-môn tóm tắt như thế nào những điều mà Đức Chúa Trời đòi hỏi nơi chúng ta?
3 Làm sao chúng ta có thể biết được Đức Chúa Trời đòi hỏi gì nơi chúng ta? Đức Giê-hô-va soi dẫn vị Vua khôn ngoan Sa-lô-môn để tóm tắt những điều ngài đòi hỏi nơi chúng ta. Sau khi suy gẫm về tất cả những gì ông đeo đuổi—kể cả sự giàu sang, những công trình xây cất, âm nhạc và tình yêu lãng mạn—Sa-lô-môn nhận thức rằng: “Chúng ta hãy nghe lời kết của lý-thuyết nầy: Khá kính-sợ Đức Chúa Trời và giữ các điều-răn Ngài; ấy là trọn phận-sự của ngươi” (Truyền-đạo 12:13).
“Điều-răn của Ngài chẳng phải là nặng-nề”
4-6. a) Từ Hy Lạp dịch ra là “nặng-nề” có nghĩa đen nào? b) Tại sao chúng ta có thể nói rằng những điều răn của Đức Chúa Trời không nặng nề?
4 “Giữ các điều-răn Ngài”. Trên căn bản, đó là điều mà Đức Chúa Trời đòi hỏi nơi chúng ta. Ngài có đòi hỏi quá nhiều không? Không đâu. Sứ đồ Giăng nói cho chúng ta biết một điều làm chúng ta rất an lòng liên quan đến những điều răn hoặc điều kiện của Đức Chúa Trời. Ông viết: “Vì nầy là sự yêu-mến Đức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng-giữ điều-răn Ngài. Điều-răn của Ngài chẳng phải là nặng-nề” (I Giăng 5:3).
5 Từ Hy Lạp dịch ra là “nặng-nề” có nghĩa đen là “nặng cân”. Chữ này có thể hàm ý một cái gì khó đạt được hoặc khó thực hiện. Nơi Ma-thi-ơ 23:4 chữ này được dùng để tả các “gánh-nặng”, tức là các phép tắc và truyền thống do loài người đặt ra mà các thầy thông giáo và người Pha-ri-si bắt dân chúng phải theo. Bạn có hiểu ý nghĩa của những gì sứ đồ lão thành Giăng kết luận không? Điều răn của Đức Chúa Trời chẳng phải là một gánh nặng, và cũng không quá khó đến nỗi chúng ta không tuân theo được. (So sánh Phục-truyền Luật-lệ Ký 30:11). Trái lại, khi chúng ta yêu thương Đức Chúa Trời, việc hội đủ điều kiện của ngài làm chúng ta vui sướng. Việc này cho chúng ta cơ hội quí giá để chứng tỏ rằng chúng ta yêu thương Đức Giê-hô-va.
6 Để bày tỏ tình yêu thương của chúng ta đối với Đức Chúa Trời, chúng ta cần phải biết rõ ngài đòi hỏi gì nơi chúng ta. Bây giờ hãy xem xét năm điều kiện mà Đức Chúa Trời đưa ra. Khi chúng ta xem xét như vậy, hãy nhớ điều Giăng viết: “Điều-răn của Ngài chẳng phải là nặng-nề”.
Tiếp thụ sự hiểu biết về Đức Chúa Trời
7. Sự cứu rỗi của chúng ta tùy thuộc vào điều gì?
7 Điều kiện thứ nhất là tiếp thụ sự hiểu biết về Đức Chúa Trời. Hãy xem xét lời của Chúa Giê-su ghi nơi Giăng đoạn 17. Bối cảnh là đêm cuối cùng mà Chúa Giê-su còn ở trên đất. Chúa Giê-su đã dành hầu hết đêm đó để chuẩn bị tinh thần các sứ đồ trước khi ngài phải rời họ. Ngài quan tâm đến tương lai của họ tức là tương lai muôn đời của họ. Ngước mắt lên trời ngài cầu nguyện cho họ. Chúng ta đọc nơi câu 3: “Vả, sự sống đời đời là nhìn biết [tiếp thụ sự hiểu biết về, NW] Cha, tức là Đức Chúa Trời có một và thật, cùng Jêsus-Christ, là Đấng Cha đã sai đến”. Vâng, sự cứu rỗi của họ tùy thuộc vào việc họ “tiếp thụ sự hiểu biết” về cả Đức Chúa Trời lẫn đấng Christ. Điều này cũng áp dụng cho chúng ta. Để được cứu rỗi, chúng ta phải tiếp thụ sự hiểu biết ấy.
8. “Tiếp thụ sự hiểu biết” về Đức Chúa Trời có nghĩa gì?
8 “Tiếp thụ sự hiểu biết” về Đức Chúa Trời có nghĩa gì? Từ Hy Lạp ở đây được dịch là “tiếp thụ sự hiểu biết” có nghĩa là “biết đến, nhận biết” hoặc là “am tường”. Cũng hãy chú ý rằng “tiếp thụ sự hiểu biết” có ý nói đến một tiến trình liên tục. Vậy tiếp thụ sự hiểu biết về Đức Chúa Trời có nghĩa là biết ngài, không phải một cách nông cạn, mà là một cách mật thiết, vun trồng tình bạn với ngài và hiểu rõ về ngài. Có được một tình bạn liên tục với Đức Chúa Trời giúp chúng ta gia tăng sự hiểu biết về ngài. Tiến trình này có thể nối tiếp mãi mãi, vì chúng ta sẽ không bao giờ học hết mọi sự về Đức Giê-hô-va (Rô-ma 11:33).
9. Chúng ta có thể biết gì về Đức Giê-hô-va qua cuốn sách sáng tạo?
9 Làm thế nào chúng ta tiếp thụ sự hiểu biết về Đức Chúa Trời? Có hai cuốn sách mà chúng ta có thể dùng để làm điều này. Cuốn thứ nhất là sách sáng tạo. Các vật mà Đức Giê-hô-va tạo ra—có tri giác và vô tri giác—giúp chúng ta thông hiểu về bản tính của ngài (Rô-ma 1:20). Chúng ta hãy xem một vài thí dụ. Tiếng ầm ầm của thác nước hùng vĩ, tiếng sóng vỗ ầm ĩ trong cơn bão, bầu trời lấp lánh ánh sao trong một đêm thanh quang đãng—những cảnh ấy há không dạy cho chúng ta biết rằng Đức Giê-hô-va là một Đức Chúa Trời có “quyền-năng... rất cao” sao? (Ê-sai 40:26). Một đứa trẻ phá ra cười khi nhìn thấy một con chó con vờn đuôi của nó hoặc một con mèo con đùa giỡn với cuộn chỉ len—há điều này không gợi ra ý tưởng là Đức Giê-hô-va, “Đức Chúa Trời hạnh-phước”, có tính khôi hài hay sao? (I Ti-mô-thê 1:11). Hương vị của một bữa ăn ngon lành, hương thơm ngạt ngào của bông hoa ngoài đồng, màu sắc sặc sỡ của con bướm xinh đẹp, tiếng chim hót líu lo vào mùa xuân, cái ôm âu yếm của một người thân—chẳng lẽ chúng ta lại không nhận thấy qua những điều này rằng Đấng Tạo hóa của chúng ta là Đức Chúa Trời của sự yêu thương, đấng muốn chúng ta vui hưởng sự sống hay sao? (I Giăng 4:8).
10, 11. a) Những điều nào về Đức Giê-hô-va và về các ý định của ngài mà chúng ta không thể học được trong cuốn sách sáng tạo? b) Lời giải đáp cho những câu hỏi nào được tìm thấy trong Kinh-thánh?
10 Tuy nhiên, qua cuốn sách sáng tạo, chúng ta chỉ biết được về Đức Giê-hô-va một cách giới hạn. Chẳng hạn: Danh Đức Chúa Trời là gì? Tại sao ngài đã tạo ra trái đất và đặt loài người trên đó? Tại sao ngài cho phép sự gian ác? Tương lai chúng ta sẽ ra sao? Để tìm thấy giải đáp cho những câu hỏi này chúng ta phải đọc một cuốn sách khác truyền đạt sự hiểu biết về Đức Chúa Trời—đó là cuốn Kinh-thánh. Qua các trang Kinh-thánh, Đức Giê-hô-va tiết lộ về chính ngài, kể cả danh ngài, cá tính và các ý định của ngài—những điều mà chúng ta không thể học được ở nơi nào khác (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:6, 7; Thi-thiên 83:18; A-mốt 3:7).
11 Trong Kinh-thánh, Đức Giê-hô-va cũng truyền đạt sự hiểu biết trọng yếu về những nhân vật khác mà chúng ta cần phải biết đến. Chẳng hạn, ai là Chúa Giê-su Christ, và ngài đóng vai trò gì trong việc thực thi ý định Đức Giê-hô-va? (Công-vụ các Sứ-đồ 4:12). Ai là Sa-tan Ma-quỉ? Hắn lừa dối thiên hạ qua những cách nào? Làm sao chúng ta có thể tránh bị hắn lừa dối? (I Phi-e-rơ 5:8). Chỉ có Kinh-thánh mới đưa ra những lời giải đáp cho các câu hỏi này mà nhờ đó chúng ta được cứu.
12. Làm sao bạn có thể giải thích tại sao tiếp thụ sự hiểu biết về Đức Chúa Trời và ý định của ngài không phải là một gánh nặng?
12 Tiếp thụ sự hiểu biết về Đức Chúa Trời và ý định của ngài có phải là một gánh nặng không? Chắc chắn là không! Bạn có thể nhớ lại cảm giác lần đầu khi bạn mới nghe về danh Đức Chúa Trời là Giê-hô-va, khi biết Nước Trời của ngài sẽ tái lập Địa đàng trên đất này, khi biết ngài đã ban Con yêu dấu làm giá chuộc cho tội lỗi của chúng ta, cũng như những lẽ thật quí báu khác không? Chẳng lẽ điều đó không giống như việc vén bức màn của sự dốt nát và nhìn thấy các sự kiện một cách rõ ràng lần đầu tiên hay sao? Tiếp thụ sự hiểu biết về Đức Chúa Trời không phải là một gánh nặng, mà là một niềm vui sướng! (Thi-thiên 1:1-3; 119:97).
Đáp ứng những tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời
13, 14. a) Một khi chúng ta tiếp thụ sự hiểu biết về Đức Chúa Trời, chúng ta phải sửa đổi nếp sống chúng ta như thế nào? b) Đức Chúa Trời đòi hỏi chúng ta phải tránh những thực hành ô uế nào?
13 Một khi chúng ta tiếp thụ sự hiểu biết về Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ nhận thấy rằng mình phải sửa đổi nếp sống. Điều này đưa chúng ta đến điều kiện thứ hai. Chúng ta phải sống theo tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời về hạnh kiểm đúng đắn và chấp nhận lẽ thật của ngài. Lẽ thật là gì? Đức Chúa Trời có thật sự quan tâm đến tín ngưỡng và hành động của chúng ta không? Nhiều người ngày nay hiển nhiên không nghĩ vậy. Vào năm 1995, Giáo hội Anh quốc công bố bản báo cáo đề nghị rằng không nên xem việc sống chung mà không kết hôn chính thức là tội lỗi. Một giám mục của giáo hội tuyên bố: “Những chữ ‘sống trong tội lỗi’ bêu xấu người ta và không có ích gì”.
14 Vậy thì có phải việc “sống trong tội lỗi” không là tội lỗi nữa hay sao? Đức Giê-hô-va nói một cách hết sức rõ ràng ngài nghĩ sao về hạnh kiểm như thế. Lời ngài là Kinh-thánh nói: “Mọi người phải kính-trọng sự hôn-nhân, chốn quê-phòng chớ có ô-uế, vì Đức Chúa Trời sẽ đoán-phạt kẻ dâm-dục cùng kẻ phạm tội ngoại-tình” (Hê-bơ-rơ 13:4). Hàng giáo phẩm và giáo dân cấp tiến có thể nghĩ rằng quan hệ tình dục trước hôn nhân không phải là tội lỗi, nhưng trước mắt Đức Chúa Trời thì đó lại là một tội trọng! Và sự ngoại tình, loạn dâm và đồng tính luyến ái thì cũng thế (Lê-vi Ký 18:6; I Cô-rinh-tô 6:9, 10). Đức Chúa Trời đòi hỏi chúng ta tránh những thực hành như thế, những điều mà ngài cho là ô uế.
15. Những đòi hỏi của Đức Chúa Trời liên hệ thế nào đến cách chúng ta đối xử với người khác và đến tín ngưỡng của chúng ta?
15 Tuy nhiên, chỉ tránh thực hành những điều mà Đức Chúa Trời xem là tội lỗi thì chưa đủ. Những đòi hỏi của Đức Chúa Trời còn bao hàm cách chúng ta đối xử với người khác. Trong gia đình, ngài muốn vợ chồng yêu thương và tôn trọng lẫn nhau. Đức Chúa Trời đòi hỏi cha mẹ phải chăm sóc đến nhu cầu vật chất, thiêng liêng và tình cảm của con cái. Ngài răn con cái là phải vâng lời cha mẹ (Châm-ngôn 22:6; Cô-lô-se 3:18-21). Còn về phần tín ngưỡng của chúng ta thì sao? Giê-hô-va Đức Chúa Trời muốn chúng ta tránh các tín ngưỡng và tập tục phát xuất từ sự thờ phượng sai lầm hoặc đi ngược lại sự dạy dỗ minh bạch của Kinh-thánh (Phục-truyền Luật-lệ Ký 18:9-13; II Cô-rinh-tô 6:14-17).
16. Giải thích tại sao việc sống theo các tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời về hạnh kiểm đúng đắn và việc chấp nhận lẽ thật của ngài không phải là một gánh nặng.
16 Sống theo các tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời về hạnh kiểm đúng đắn và chấp nhận lẽ thật của ngài có phải là một gánh nặng cho chúng ta không? Không phải vậy nếu chúng ta xem xét về lợi ích—đời sống hôn nhân mà vợ chồng yêu thương và tin cậy lẫn nhau thay vì đời sống hôn nhân đổ vỡ vì thiếu sự chung thủy; những mái nhà nơi đó con cái cảm thấy được cha mẹ yêu thương và chăm sóc thay vì gia đình trong đó con cái cảm thấy bị hất hủi, bỏ bê và ruồng bỏ; một lương tâm trong sạch và sức khỏe tốt thay vì một lương tâm tội lỗi và một thân thể bị hủy hoại vì bệnh AIDS (Sida) hoặc một bệnh nào khác lây qua đường sinh dục. Những đòi hỏi của Đức Giê-hô-va chắc chắn không làm chúng ta thiếu thốn bất cứ điều gì mà chúng ta cần để vui hưởng đời sống! (Phục-truyền Luật-lệ Ký 10:12, 13).
Tỏ ra tôn trọng sự sống và huyết
17. Đức Giê-hô-va có quan điểm gì về sự sống và huyết?
17 Một khi bạn sống phù hợp với các tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời, bạn hiểu được sự sống thật quí giá như thế nào. Bây giờ chúng ta hãy thảo luận điều kiện thứ ba của Đức Chúa Trời. Chúng ta phải tỏ ra tôn trọng sự sống và huyết. Đức Giê-hô-va coi trọng sự sống. Hẳn phải là như thế, vì ngài là Nguồn của sự sống (Thi-thiên 36:9). Ngay cả mạng sống của một thai nhi còn trong bụng mẹ là đáng quí trước mắt Đức Giê-hô-va! (Xuất Ê-díp-tô Ký 21:22, 23). Huyết tượng trưng cho sự sống. Bởi thế, huyết cũng là đáng quí trước mắt Đức Chúa Trời (Lê-vi Ký 17:14). Vậy chúng ta chớ nên ngạc nhiên khi Đức Chúa Trời muốn chúng ta có cùng quan điểm với ngài về sự sống và huyết.
18. Quan điểm của Đức Giê-hô-va về sự sống và huyết đòi hỏi gì nơi chúng ta?
18 Chúng ta phải làm gì để chứng tỏ rằng chúng ta quí trọng sự sống và huyết? Là tín đồ đấng Christ, chúng ta không dại dột liều mạng sống chỉ để mua vui. Chúng ta ý thức về sự an toàn, vì thế chúng ta cẩn thận gìn giữ xe cộ và nhà cửa cho được an toàn (Phục-truyền Luật-lệ Ký 22:8). Chúng ta không dùng thuốc lá, nhai trầu hoặc dùng ma túy để hưởng lạc (II Cô-rinh-tô 7:1). Bởi vì chúng ta nghe lời Đức Chúa Trời khi ngài nói hãy ‘kiêng huyết’, nên chúng ta không tiếp máu vào cơ thể chúng ta (Công-vụ các Sứ-đồ 15:28, 29). Dù yêu đời, chúng ta không cố duy trì mạng sống hiện tại bằng cách vi phạm luật pháp Đức Chúa Trời và như vậy làm phương hại đến triển vọng sống muôn đời của chúng ta! (Ma-thi-ơ 16:25).
19. Giải thích chúng ta hưởng được lợi ích như thế nào qua việc tỏ ra quí trọng sự sống và huyết.
19 Phải chăng quí trọng sự sống và huyết là một gánh nặng cho chúng ta? Chắc chắn là không! Hãy nghĩ xem. Không bị ung thư phổi do việc hút thuốc gây ra có là gánh nặng không? Tránh không nghiện ngập ma túy gây độc hại đến thể xác và tâm trí có là gánh nặng không? Tránh không bị nhiễm bệnh AIDS (Sida), viêm gan hoặc bệnh nào khác do sự tiếp máu gây ra có là gánh nặng không? Rõ ràng là chúng ta hưởng được nhiều lợi ích nhất nếu chúng ta tránh được các thói quen và thực hành độc hại (Ê-sai 48:17).
20. Một gia đình đã được lợi ích như thế nào vì có cùng quan điểm với Đức Chúa Trời về sự sống?
20 Hãy xem thí dụ này. Cách đây vài năm, vào một buổi tối nọ, một chị Nhân-chứng đã có bầu khoảng ba tháng rưỡi, bắt đầu băng huyết và phải vào bệnh viện gấp. Sau khi được bác sĩ chẩn bệnh, chị tình cờ nghe bác sĩ nói với một y tá rằng họ phải hủy bỏ cái bào thai. Biết quan điểm của Đức Giê-hô-va về sự sống của thai nhi, chị nhất quyết từ chối không cho phá thai. Chị nói với bác sĩ: “Nếu thai nhi còn sống, xin đừng đụng đến!” Chị tiếp tục bị băng huyết nhiều lần, nhưng vài tháng sau chị sanh ra một bé trai tuy thiếu tháng nhưng khỏe mạnh, và bây giờ em này đã được 17 tuổi. Chị giải thích: “Chúng tôi có kể cho con trai chúng tôi nghe chuyện này, và cháu nói rằng cháu mừng là không bị vứt vào thùng rác. Cháu biết rằng lý do duy nhất mà cháu vẫn còn sống là vì chúng tôi phụng sự Đức Giê-hô-va”. Có cùng quan điểm với Đức Chúa Trời về sự sống chắc chắn không phải là gánh nặng cho gia đình này!
Cùng phụng sự với dân có tổ chức của Đức Giê-hô-va
21, 22. a) Đức Giê-hô-va mong đợi chúng ta cùng với ai phụng sự ngài? b) Làm sao nhận ra được dân tộc có tổ chức của Đức Chúa Trời?
21 Chúng ta không phải là những người duy nhất đang đổi nếp sống để cho phù hợp với tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời. Đức Giê-hô-va có một dân tộc trên đất này, và ngài mong đợi chúng ta cùng với họ phụng sự ngài. Điều này dẫn chúng ta đến điều kiện thứ tư. Chúng ta phải phụng sự Đức Giê-hô-va cùng với tổ chức do thánh linh ngài hướng dẫn.
22 Nhưng, làm sao nhận ra được dân tộc có tổ chức của Đức Chúa Trời? Dựa theo tiêu chuẩn đề ra trong Kinh-thánh, họ thật sự thương yêu lẫn nhau, họ tôn trọng Kinh-thánh, họ tôn vinh danh Đức Chúa Trời, họ rao giảng về Nước Trời và họ không thuộc về thế gian hung ác này (Ma-thi-ơ 6:9; 24:14; Giăng 13:34, 35; 17:16, 17). Chỉ có một tổ chức tôn giáo duy nhất trên đất mới có các đặc điểm này của đạo thật đấng Christ, và đó là Nhân-chứng Giê-hô-va!
23, 24. Làm sao chúng ta có thể cho thấy rõ việc phụng sự Đức Giê-hô-va cùng với dân tộc có tổ chức của ngài không phải là một gánh nặng?
23 Phụng sự Đức Giê-hô-va cùng với dân tộc có tổ chức của ngài có phải là gánh nặng hay không? Chắc chắn là không! Ngược lại, có được sự yêu thương và ủng hộ của các anh chị tín đồ đấng Christ thuộc đại gia đình quốc tế là một đặc ân quí báu (I Phi-e-rơ 2:17). Hãy tưởng tượng bạn sống sót trong một vụ đắm tàu và đang cố nổi trên mặt nước. Vừa khi bạn cảm thấy không còn sức chịu đựng nữa thì có một bàn tay với tới từ một chiếc thuyền cứu đắm. Vâng, có những người sống sót khác! Trên chiếc thuyền cứu đắm, bạn và những người khác thay phiên nhau chèo vào bờ, cứu vớt những người khác dọc đường.
24 Chúng ta không ở trong một cảnh ngộ tương tự hay sao? Chúng ta được vớt ra khỏi “nước” nguy hiểm của thế gian hung ác này vào trong chiếc “thuyền cứu đắm”, tổ chức trên đất của Đức Giê-hô-va. Trong thuyền này, chúng ta phụng sự vai kề vai, hướng về “bờ” của thế giới mới công bình. Nếu áp lực của cuộc sống làm cho chúng ta mệt mỏi ở dọc đường, chúng ta biết ơn biết bao về những sự giúp đỡ và an ủi của những người đồng hành là tín đồ đạo đấng Christ! (Châm-ngôn 17:17).
25. a) Chúng ta có bổn phận gì đối với những ai vẫn còn ở trong “nước” của thế gian hung ác này? b) Điều kiện nào của Đức Chúa Trời sẽ được bàn đến trong bài sau đây?
25 Còn những người khác thì sao, tức là những người thành thật vẫn còn dưới “nước”? Chẳng phải chúng ta có bổn phận giúp họ đến với tổ chức của Đức Giê-hô-va hay sao? (I Ti-mô-thê 2:3, 4). Họ cần sự giúp đỡ để biết Đức Chúa Trời đòi hỏi gì. Điều này đưa chúng ta đến điều kiện thứ năm của Đức Chúa Trời. Chúng ta phải trung thành công bố về Nước Đức Chúa Trời. Bài sau đây sẽ bàn về điều này bao hàm những gì.
Bạn có nhớ không?
◻ Tại sao những điều răn của Đức Chúa Trời chẳng phải là nặng nề?
◻ Chúng ta tiếp thụ sự hiểu biết về Đức Chúa Trời bằng cách nào?
◻ Tại sao sống theo tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời về hạnh kiểm đúng đắn và chấp nhận lẽ thật không phải là gánh nặng?
◻ Quan điểm của Đức Chúa Trời về sự sống và huyết đòi hỏi gì nơi chúng ta?
◻ Đức Chúa Trời mong chúng ta cùng với ai phụng sự ngài, và làm sao chúng ta có thể nhận ra họ?
[Các hình nơi trang 18]
Chúng ta biết về Đức Giê-hô-va qua cuốn sách sáng tạo và Kinh-thánh
[Nguồn tư liệu]
Cá sấu: By courtesy of Australian International Public Relations; gấu: Safari-Zoo of Ramat-Gan, Tel Aviv