Tất cả tín đồ thật của Đấng Christ phải là người rao giảng tin mừng
“Hãy... làm việc của người giảng Tin-lành” (II TI-MÔ-THÊ 4:5).
1. Tin mừng được rao giảng trong thế kỷ thứ nhất là gì?
LÀM VIỆC của người rao giảng tin mừng có nghĩa gì? Bạn có phải là một người rao giảng tin mừng không? Trong tiếng Hy-lạp chữ eu·ag·ge·li·stesʹ có nghĩa là “một người rao giảng tin mừng”. Kể từ ngày thành lập hội-thánh đấng Christ vào năm 33 công nguyên, tin mừng của đạo đấng Christ nhấn mạnh sự sắp đặt của Đức Chúa Trời để giải cứu nhân loại và rao báo rằng Giê-su Christ sẽ trở lại sau này để bắt đầu sự cai trị của Nước Trời trên khắp nhân loại (Ma-thi-ơ 25:31, 32; II Ti-mô-thê 4:1; Hê-bơ-rơ 10:12, 13).
2. a) Trong thời kỳ chúng ta ngày nay, nội dung tin mừng được phong phú thêm lên thế nào? b) Tất cả tín đồ thật của đấng Christ ngày nay có trách nhiệm phải làm gì?
2 Kể từ năm 1914, nhiều bằng chứng liên tiếp theo nhau cho thấy rằng cái điềm mà Giê-su nói tiên tri về sự trở lại và hiện diện vô hình của ngài đang được ứng nghiệm (Ma-thi-ơ 24:3-13, 33). Một lần nữa, tin mừng có thể bao gồm thành ngữ “nước Đức Chúa Trời gần đến” (Lu-ca 21:7, 31; Mác 1:14, 15). Thật vậy, giờ đã đến khi lời tiên tri của Chúa Giê-su ghi nơi Ma-thi-ơ 24:14 được thực hiện một cách trọn vẹn: “Tin-lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối-cùng sẽ đến”. Do đó công việc rao giảng tin mừng ngày nay bao gồm việc sốt sắng rao báo rằng Nước Trời đã được thành lập rồi và nói về những ân phước mà Nước Trời sắp đem lại cho loài người biết vâng phục. Tất cả tín đồ đấng Christ được lệnh làm công việc này và “dạy-dỗ muôn dân” (Ma-thi-ơ 28:19, 20; Khải-huyền 22:17).
3. a) Từ ngữ “người rao giảng tin mừng” có thêm một ý nghĩa nào nữa? (Xem sách Insight on the Scriptures, quyển I, trg 770, cột 2, đoạn 2). b) Điều này nêu lên những câu hỏi nào?
3 Ngoài công việc rao giảng tin mừng nói chung, Kinh-thánh cũng dùng từ ngữ “người rao giảng tin mừng” với một ý nghĩa đặc biệt để nói về những người lìa bỏ khu vực nhà mình để đi rao giảng tin mừng tại những vùng xa lạ, nơi đó chưa được nghe rao giảng. Trong thế kỷ thứ nhất có nhiều người giáo sĩ rao giảng tin mừng như Phi-líp, Phao-lô, Ba-na-ba, Si-la và Ti-mô-thê (Công-vụ các Sứ-đồ 21:8; Ê-phê-sô 4:11). Nhưng trong thời kỳ đặc biệt kể từ 1914 đến nay thì sao? Dân sự của Đức Giê-hô-va có vui lòng phụng sự với tư cách người rao giảng tại địa phương và cả tại xứ lạ không?
Tiến triển kể từ 1919
4, 5. Ngay sau năm 1914, công việc rao giảng tin mừng có triển vọng nào?
4 Khi Thế Chiến thứ nhất chấm dứt năm 1918, các tôi tớ của Đức Chúa Trời gặp sự chống đối gia tăng từ phía những kẻ bội đạo và giới chức giáo phẩm của các tôn giáo tự xưng theo đấng Christ cùng đồng minh chính trị của chúng. Thật vậy, công việc rao giảng tin mừng của tín đồ thật của đấng Christ gần như bị ngưng trệ vào tháng 6 năm 1918 khi các nhân viên chính trong ban điều hành Hội Tháp Canh (Watch Tower Society) tại Hoa Kỳ bị tuyên án 20 năm tù vì bị cáo gian. Các kẻ thù nghịch Đức Chúa Trời có thành công trong việc chấm dứt được công việc rao giảng tin mừng không?
5 Bất ngờ vào tháng 3 năm 1919, các nhân viên của Hội Tháp Canh được thả ra và sau này được miễn hết các tội cáo gian mà khi trước đã khiến họ phải vào tù. Các tín đồ được xức dầu khi đó được ban cho sự tự do mới và họ ý thức được rằng còn rất nhiều công việc cần phải làm trước khi họ được nhóm lại để nhận phần thưởng trên trời làm kẻ đồng kế tự trong Nước của Đức Chúa Trời (Rô-ma 8:17; II Ti-mô-thê 2:12; 4:18).
6. Công việc rao giảng tin mừng tiến triển thế nào từ năm 1919 đến năm 1939?
6 Vào năm 1919 con số những người tham gia công việc rao giảng tin mừng là chưa tới 4.000 người. Trong hai chục năm sau đó có một số người phái nam tình nguyện làm giáo sĩ và được gửi đi các nước tại Phi Châu, Á Châu và Âu Châu. Khoảng năm 1939, sau 20 năm rao giảng về Nước Trời, Nhân-chứng Giê-hô-va tăng lên đến 73.000 người. Sự gia tăng vượt bực ấy đã đạt được mặc dù bị bắt bớ cho thấy tình trạng quả giống như hội-thánh tín đồ đấng Christ trong thế kỷ thứ nhất vậy (Công-vụ các Sứ-đồ 6:7; 8:4, 14-17; 11:19-21).
7. Trong những năm 47 và 1939 có tình trạng tương tợ nào liên quan đến công việc rao giảng tin mừng của tín đồ đấng Christ?
7 Nhưng đa số các Nhân-chứng Giê-hô-va thời đó tập trung trong các nước nói tiếng Anh và theo đạo Tin-lành. Thật vậy hơn 75 phần trăm trong số 73.000 người rao giảng tin mừng về Nước Trời là người ở Úc Châu, Anh Quốc, Gia Nã Đại, Tân Tây Lan và Hoa Kỳ. Và cũng tương tợ với trường hợp vào năm 47 công nguyên, cần một điều gì để khuyến khích những người rao giảng tin mừng chú ý hơn đến những khu vực trên đất ít được rao giảng.
8. Tới năm 1992 thì trường Ga-la-át đã thực hiện được những gì?
8 Những sự hạn chế và bắt bớ trong thời chiến tranh không thể cản trở thánh linh mạnh mẽ của Đức Giê-hô-va thúc đẩy các tôi tớ của Ngài sửa soạn cho một sự bành trướng rộng lớn hơn. Năm 1943, khi Thế Chiến thứ hai đang trong thời kỳ dữ dội, tổ chức của Đức Chúa Trời lập ra trường Ga-la-át (Watchtower Bible School of Gilead) nhằm rao truyền tin mừng đến cho nhiều nước hơn. Tính cho đến tháng 3 năm 1992, trường Ga-la-át đã gửi 6.517 giáo sĩ đi đến 171 nước. Ngoài ra, trường cũng huấn luyện nhiều anh để trông coi các chi nhánh của Hội Tháp Canh tại nước ngoài. Tính đến năm 1992 thì trong 97 anh giữ phận sự Phối hợp viên ủy ban chi nhánh (Branch Committee Coordinator) có 75 anh đã được huấn luyện tại Ga-la-át.
9. Có những chương trình huấn luyện nào đã giúp cho sự tiến triển của công việc rao giảng tin mừng và đào tạo môn đồ?
9 Ngoài trường Ga-la-át còn có những chương trình huấn luyện khác nữa để chuẩn bị cho dân sự của Đức Giê-hô-va bành trướng và cải tiến trong công việc rao giảng tin mừng. Để thí dụ, Trường học Thánh chức Thần quyền (Theocratic Ministry School) được mở tại các hội-thánh của Nhân-chứng Giê-hô-va trên khắp đất. Trường học này, cùng với buổi Nhóm họp Công tác hàng tuần (Service Meeting) đã huấn luyện hàng triệu người tuyên bố về Nước Trời trở nên hữu hiệu trong công việc rao giảng cho công chúng. Trường học Thánh chức Nước Trời (Kingdom Ministry School) dành cho việc huấn luyện các trưởng lão và tôi tớ chức vụ để họ có thể chăm sóc công việc tốt hơn trong các hội-thánh ngày càng gia tăng. Trường Công việc Khai thác (Pioneer Service School) đã giúp đỡ nhiều người rao giảng tin mừng trọn thời gian để họ trở nên hữu hiệu hơn nữa trong hoạt động rao giảng. Gần đây hơn có Trường Huấn luyện Thánh chức (Ministerial Training School) được mở ra tại nhiều nước để giúp những anh trưởng lão và tôi tớ chức vụ độc thân để trở nên những người giống như Ti-mô-thê thời nay.
10. Sự huấn luyện tuyệt hảo do tổ chức của Đức Chúa Trời cung cấp có kết quả gì? (Cho thêm chi tiết trong khung).
10 Kết quả của mọi sự huấn luyện này là gì? Năm 1992, Nhân-chứng Giê-hô-va đã đạt đến số tối đa là gần bốn triệu rưỡi người rao giảng về Nước Trời hoạt động trong 229 xứ. Tuy nhiên, khác với tình trạng vào năm 1939, hơn 70 phần trăm con số trên đây là những người trước thuộc các đạo Công giáo, Chính thống giáo, các đạo không theo đấng Christ, hoặc ở các xứ không nói tiếng Anh. (Xem khung “Gia tăng kể từ năm 1939”).
Tại sao thành công
11. Phao-lô nói nhờ ai mà việc rao giảng của ông được thành công?
11 Nhân-chứng Giê-hô-va không nghĩ sự gia tăng này là do công của mình. Thay vì thế họ xem công việc rao giảng giống như Phao-lô khi ông giải thích trong lá thư gửi người Cô-rinh-tô: “Thế thì, A-bô-lô là ai, và Phao-lô là ai? Ấy là kẻ tôi tớ, mà bởi kẻ đó anh em đã tin-cậy, y theo Chúa đã ban cho mọi người. Tôi đã trồng, A-bô-lô đã tưới, nhưng Đức Chúa Trời đã làm cho lớn lên. Vậy, người trồng, kẻ tưới, đều không ra gì, song Đức Chúa Trời là Đấng làm cho lớn lên. Vả, chúng tôi là bạn cùng làm việc với Đức Chúa Trời; anh em là ruộng của Đức Chúa Trời cày, nhà của Đức Chúa Trời xây” (I Cô-rinh-tô 3:5-7, 9).
12. a) Lời của Đức Chúa Trời đóng vai trò nào khiến cho công việc rao giảng của tín đồ đấng Christ được thành công? b) Ai được bổ nhiệm làm Đầu của hội-thánh tín đồ đấng Christ, và một cách quan trọng để chứng tỏ chúng ta phục tùng sự lãnh đạo của ngài là gì?
12 Chắc chắn sự gia tăng phi thường của các Nhân-chứng Giê-hô-va là do ân phước của Đức Chúa Trời. Đây là công việc của Ngài. Các Nhân-chứng ý thức được sự kiện này và họ tiếp tục chăm chỉ học hỏi Kinh-thánh đều đều. Tất cả những điều họ dạy dỗ đều căn cứ trên Kinh-thánh (I Cô-rinh-tô 4:6; II Ti-mô-thê 3:16). Một bí quyết khác khiến họ thành công trong công việc rao giảng tin mừng là vì họ chấp nhận trọn vẹn Đấng mà Đức Chúa Trời đã bổ nhiệm làm Đầu hội-thánh, tức Chúa Giê-su Christ (Ê-phê-sô 5:23). Các tín đồ trong thế kỷ thứ nhất chứng tỏ điều ấy bằng cách hợp tác với những người được Giê-su bổ nhiệm làm sứ đồ. Các sứ đồ cùng các trưởng lão thuộc hội-thánh ở Giê-ru-sa-lem họp thành hội đồng lãnh đạo trung ương của tín đồ đấng Christ trong thế kỷ thứ nhất. Chúa Giê-su Christ từ trên trời dùng nhóm tín đồ thành thục này để giải quyết các vấn đề tranh luận và điều khiển công việc rao giảng tin mừng. Phao-lô sốt sắng hợp tác với sự sắp đặt này cho nên các hội-thánh mà ông đến viếng thăm đều có sự gia tăng (Công-vụ các Sứ-đồ 16:4, 5; Ga-la-ti 2:9). Ngày nay cũng vậy, những người rao giảng tin mừng sẽ chắc chắn thành công nếu họ nắm vững Lời của Đức Chúa Trời và sốt sắng hợp tác với sự điều khiển của Hội đồng Lãnh đạo Trung ương (Tít 1:9; Hê-bơ-rơ 13:17).
Coi trọng người khác hơn mình
13, 14. a) Phao-lô cho lời khuyên nào ghi nơi Phi-líp 2:1-4? b) Tại sao điều quan trọng là nên ghi nhớ lời khuyên này khi tham gia công việc rao giảng?
13 Sứ đồ Phao-lô tỏ lòng yêu thương chân thật đối với những người tìm kiếm lẽ thật. Ông không coi họ thấp hèn và cũng không có thái độ kỳ thị chủng tộc đối với họ. Bởi vậy ông có thể khuyên các anh em hãy “coi người khác như tôn-trọng hơn mình” (Phi-líp 2:1-4).
14 Ngày nay cũng thế, tín đồ thật của đấng Christ rao giảng tin mừng không tự cho mình cao trọng hơn khi giao thiệp với những người thuộc mọi chủng tộc và văn hóa khác nhau. Một Nhân-chứng Giê-hô-va người Mỹ được phái làm giáo sĩ tại Phi Châu đã nói: “Tôi biết rõ chúng ta không cao trọng gì hơn họ [người địa phương]. Có lẽ chúng ta có nhiều tiền hơn và có một căn bản học vấn cao hơn, nhưng họ có những đức tính tốt hơn”.
15. Những người được phái đi rao giảng tại những nước xa lạ có thể tỏ mình thật sự tôn trọng những môn đồ tương lai thế nào?
15 Khi chúng ta rao giảng tin mừng và tỏ ra tôn trọng người ta thật sự, chắc chắn người nghe sẽ chấp nhận thông điệp của Kinh-thánh một cách dễ dàng hơn. Và khi người giáo sĩ tỏ ra vui thích sống giữa những người địa phương mà mình có trách nhiệm chia xẻ tin mừng thì điều này cũng có lợi nữa. Một giáo sĩ đã thành công nhiều trong 38 năm rao giảng tại Phi Châu giải thích: “Tôi cảm thấy tận đáy lòng rằng đây thật là nhà của tôi và những người trong hội-thánh nơi tôi được bổ nhiệm để phục vụ thật là những anh chị em của tôi. Khi tôi trở về nghỉ hè tại Gia Nã Đại, tôi không cảm thấy như ở nhà nữa. Và trong tuần sau rốt ở Gia Nã Đại, tôi như nôn nóng muốn trở lại [Phi Châu]. Tôi luôn luôn cảm thấy như vậy. Tôi nói với những người học Kinh-thánh và những anh chị em rằng tôi rất sung sướng trở lại, và họ thích tôi vì tôi thật sự muốn ở cùng họ” (I Tê-sa-lô-ni-ca 2:8).
16, 17. a) Nhiều người rao giảng tin mừng kể cả giáo sĩ lẫn người địa phương chấp nhận sự thử thách khó khăn nào hầu rao giảng hữu hiệu hơn? b) Một giáo sĩ có được kinh nghiệm nào nhờ biết nói tiếng địa phương?
16 Khi những người rao giảng gặp rất nhiều người nói một thứ tiếng ngoại quốc nào đó trong khu vực rao giảng của họ, một số người đã cố gắng học thứ tiếng ngoại quốc ấy. Bằng cách đó họ cũng tỏ ra coi người khác tôn trọng hơn mình. Một giáo sĩ nhận xét: “Tại miền nam Phi Châu đôi khi người gốc Phi Châu và người gốc Âu Châu có một cảm giác ngờ vực nhau. Nhưng khi thấy chúng tôi nói tiếng của người địa phương thì sự ngờ vực tan biến ngay”. Nếu nói được trong tiếng của những người nghe rao giảng thì sẽ giúp chúng ta động vào lòng họ. Nhưng cần phải nhiều cố gắng và kiên trì nhịn nhục. Một giáo sĩ tại một nước Á Châu nói: “Thật là một thử thách lớn khi ngày này qua ngày nọ mình cứ nói sai, nói trật và bị người ta cười hoài. Nhiều người nghĩ dễ hơn thà thôi không học tiếng nữa”. Tuy nhiên vì lòng yêu thương đối với Đức Chúa Trời và người lân cận nên người giáo sĩ nói trên vẫn kiên trì (Mác 12:30, 31).
17 Điều dễ hiểu là người ta thường mến người ngoại quốc cố gắng học tiếng bản xứ hầu chia xẻ tin mừng cho họ. Đôi khi việc này đem lại kết quả tốt bất ngờ. Một nữ giáo sĩ tại nước Lesotho ở Phi Châu đang nói chuyện bằng tiếng Sesotho với một người đàn bà làm việc trong một tiệm bán thảm. Ông bộ trưởng của một nước Phi Châu khác đang thăm viếng tiệm và nghe thấy hai bà nói chuyện. Ông bèn đến chào và khen người giáo sĩ, bấy giờ chị này bèn nói với ông trong tiếng của xứ ông. Ông hỏi: “Sao bà không đến [xứ tôi] mà giảng cho dân nước tôi, vì bà cũng biết nói tiếng Swahili nữa?” Chị giáo sĩ khéo léo trả lời: “Như thế thì tốt thật. Nhưng tôi là một Nhân-chứng Giê-hô-va, và hiện nay việc làm của chúng tôi bị cấm đoán trong nước ông”. Ông bộ trưởng trả lời: “Xin đừng nghĩ rằng tất cả chúng tôi đều chống đối. Nhiều người trong chúng tôi ủng hộ các Nhân-chứng Giê-hô-va. Có lẽ một ngày kia bà sẽ có thể tự do dạy dỗ giữa chúng tôi”. Ít lâu sau đó, người giáo sĩ này rất vui sướng nghe tin nói Nhân-chứng Giê-hô-va được quyền tự do tín ngưỡng tại nước nói trên.
Chịu hy sinh quyền lợi cá nhân
18, 19. a) Phao-lô cố gắng bắt chước Giê-su Christ, Thầy Dạy ông, bằng cách quan trọng nào? b) Hãy kể một kinh nghiệm (như trong đoạn trên, hay của riêng bạn cũng được) cho thấy nên tránh bất cứ cớ nào có thể làm vấp phạm những người mà chúng ta rao giảng tin mừng.
18 Khi sứ đồ Phao-lô viết: “Hãy bắt-chước tôi, cũng như chính mình tôi bắt chước Đấng Christ vậy”, ông vừa mới bàn luận về việc đừng làm người khác vấp phạm, ông nói: “Vậy, hoặc anh em ăn, hoặc uống, hay làm sự chi khác, hãy vì sự vinh-hiển Đức Chúa Trời mà làm. Đừng làm gương xấu cho người Giu-đa, người Gờ-réc, hay là Hội-thánh của Đức Chúa Trời; hãy như tôi gắng sức đẹp lòng mọi người trong mọi việc, chẳng tìm ích-lợi riêng cho mình, nhưng cho phần nhiều người, để họ được cứu” (I Cô-rinh-tô 10:31-33; 11:1).
19 Những người rao giảng sẵn sàng chịu hy sinh như Phao-lô vì lợi ích của những người nghe rao giảng thì sẽ gặt hái được nhiều ân phước. Thí dụ, tại một xứ Phi Châu nọ, hai vợ chồng giáo sĩ đến ăn tại một khách sạn địa phương để mừng lễ kỷ niệm hôn nhân của họ. Mới đầu họ định kêu rượu chát uống với món ăn, vì Kinh-thánh cho phép uống rượu có chừng mực (Thi-thiên 104:15). Nhưng rồi cặp vợ chồng giáo sĩ này quyết định không kêu rượu vì sợ làm người địa phương bị vấp phạm. Xong người chồng kể lại: “Ít lâu sau đó, chúng tôi gặp một người đàn ông nấu bếp trong khách sạn đó, và chúng tôi học Kinh-thánh với ông. Mãi sau ông mới nói với chúng tôi: ‘Các bạn có nhớ tối hôm đó đến ăn tại khách sạn không? Chúng tôi núp sau cửa nhà bếp để xem xét các bạn. Các bạn biết không, các giáo sĩ của nhà thờ thì một mặt bảo chúng tôi đừng uống rượu vì là quấy, mặt khác thì họ đến khách sạn kêu rượu uống liên miên. Bởi vậy chúng tôi quyết định nếu các bạn kêu rượu uống thì chúng tôi sẽ không nghe các bạn rao giảng đâu’ ”. Ngày nay người đàn ông nấu bếp và vài người nữa cũng làm trong khách sạn đó đã làm báp têm và trở thành Nhân-chứng Giê-hô-va.
Vẫn còn nhiều việc làm
20. Tại sao việc chúng ta phải kiên trì và sốt sắng rao giảng tin mừng là điều quan trọng, và nhiều người vui mừng nắm lấy đặc ân phụng sự nào?
20 Trong khi sự cuối cùng của hệ thống ác này gần đến, hãy còn có nhiều người mong được nghe tin mừng, vậy bây giờ hơn bao giờ hết mỗi tín đồ đấng Christ cần phải kiên trì rao giảng tin mừng (Ma-thi-ơ 24:13). Bạn có thể tham dự nhiều hơn trong công việc rao giảng cách đặc biệt như Phi-líp, Phao-lô, Ba-na-ba, Si-la, và Ti-mô-thê không? Nhiều người làm tương tợ như thế bằng cách trở thành người khai thác và tình nguyện phục vụ tại những nơi có nhiều nhu cầu rao giảng.
21. Bằng cách nào “một cái cửa lớn mở toang ra cho công-việc” của dân sự Đức Giê-hô-va?
21 Mới đây có nhiều khu vực rộng lớn tại các nước ở Phi Châu, Á Châu và Đông Âu trước kia công việc rao giảng bị hạn chế nhưng nay đã được mở rộng. Giống như trong trường hợp của Phao-lô, “tại đó có một cái cửa lớn mở toang ra cho công-việc” (I Cô-rinh-tô 16:9). Thí dụ, những giáo sĩ rao giảng tin mừng mới đến xứ Mozambique ở Phi Châu không thể nào học Kinh-thánh với hết thảy số người muốn học. Chúng ta vui sướng biết bao vì công việc của Nhân-chứng Giê-hô-va tại xứ này được hợp pháp hóa ngày 11 tháng 2 năm 1991!
22. Dù khu vực của chúng ta đã rao giảng nhiều rồi hay chưa, tất cả chúng ta cần phải quyết tâm làm gì?
22 Trong các xứ mà chúng ta luôn luôn có tự do tín ngưỡng, các anh em của chúng ta cũng vui mừng có nhiều gia tăng. Thật vậy, dù chúng ta sống ở đâu đi nữa, chúng ta vẫn cần “làm công-việc Chúa cách dư-dật” (I Cô-rinh-tô 15:58). Bởi vậy chúng ta hãy tiếp tục dùng thì giờ còn lại cách khôn ngoan và “làm việc của người giảng Tin-lành, mọi phận-sự về chức-vụ... làm cho đầy-đủ” (II Ti-mô-thê 4:5; Ê-phê-sô 5:15, 16).
Bạn có thể giải thích không?
◻ Người rao giảng tin mừng có nghĩa là gì?
◻ Sau năm 1914, nội dung tin mừng được phong phú thêm lên thế nào?
◻ Công việc rao giảng tin mừng đã tiến triển thế nào kể từ năm 1919?
◻ Có những yếu tố quan trọng nào đã góp phần trong sự thành công của công việc rao giảng tin mừng?
[Khung nơi trang 19]
GIA TĂNG KỂ TỪ NĂM 1939
Hãy xem trường hợp ba lục địa mà các giáo sĩ nhận sự huấn luyện tại trường Ga-la-át đã được phái đến [để rao giảng]. Hồi 1939 chỉ có 636 người tuyên bố về Nước Trời đã góp báo cáo tại vùng Tây Phi. Đến 1991 thì con số đó đã tăng lên tới hơn 200.000 trong 12 xứ trong vùng Tây Phi. Các giáo sĩ cũng đã góp phần trong sự gia tăng vượt bực trong các xứ vùng Nam Mỹ. Thí dụ Ba-tây đã gia tăng từ 114 người tuyên bố về Nước Trời trong năm 1939 lên tới 335.039 người vào tháng 4 năm 1992. Sau khi các giáo sĩ đến [rao giảng] trong các xứ ở Á Châu thì cũng có sự gia tăng tương tợ. Trong Thế chiến thứ hai, các Nhân-chứng Giê-hô-va tại Nhật có ít người và bị bắt bớ nặng nề, và công việc của họ bị ngưng trệ. Thế rồi năm 1949 có 13 giáo sĩ đến giúp tổ chức lại công việc. Trong năm công tác đó có chưa tới mười người bản xứ góp báo cáo rao giảng trong cả nước Nhật, nhưng vào tháng 4 năm 1992 số tổng cộng những người tuyên bố lên đến 167.370 người.
[Khung nơi trang 21]
CÁC ĐẠO TỰ XƯNG THEO ĐẤNG CHRIST VÀ VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ
Một số các giáo sĩ của các đạo tự xưng theo đấng Christ có cố gắng học tiếng ngoại quốc, nhưng đa số chờ đợi người bản xứ phải nói tiếng Âu Châu của họ. Ông Geoffrey Moorhouse giải thích trong sách “Các giáo sĩ” (The Missionaries):
“Vấn đề trở ngại là người ta coi việc học một tiếng bản xứ như là chỉ để dịch Kinh-thánh mà thôi. Các cá nhân giáo sĩ hay hiệp hội tuyển chọn họ tương đối cố gắng rất ít trong việc khuyến khích giáo sĩ học để có thể nói được với người bản xứ trong tiếng của họ một cách thông thạo hầu có sự thông cảm sâu xa giữa hai bên. Mỗi giáo sĩ chỉ nhặt một số ngữ vựng sơ sài trong tiếng địa phương... Ngoài ra thì là liên lạc nói chung bằng một thứ tiếng nghe ghê sợ và lố lăng gọi là “tiếng bồi Ăng-lê” (Pidgin English), họ đinh ninh rằng người bản xứ Phi Châu phải phục tùng theo qui tắc của người Anh đến viếng thăm. Tệ hại nhất, việc này lại là một cách khác tỏ ra có sự miệt thị chủng tộc”.
Năm 1922, Trường Nghiên cứu Á-Phi tại Luân-đôn đăng một bản tường trình về vấn đề ngôn ngữ nói rằng: “Chúng tôi nghĩ mức độ trung bình về khả năng nói tiếng bản xứ của các giáo sĩ... rất thấp kém một cách đáng tiếc và ngay cả nguy hiểm nữa”.
Các giáo sĩ của Hội Tháp Canh (Watch Tower Society) từ xưa vẫn coi việc học tiếng địa phương là một việc phải làm, điều này giúp giải thích sự thành công của họ nơi xứ lạ.