Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của giao ước
“Ta sẽ lập một giao ước mới với nhà Y-sơ-ra-ên và với nhà Giu-đa” (GIÊ-RÊ-MI 31:31).
1, 2. a) Chúa Giê-su đã thiết lập lễ nào vào buổi tối ngày 14 Ni-san, năm 33 CN? b) Chúa Giê-su nói đến giao ước nào liên quan đến sự chết của ngài?
VÀO buổi tối ngày 14 Ni-san, năm 33 CN, Chúa Giê-su cử hành Lễ Vượt Qua với 12 sứ đồ. Vì biết rằng đêm nay sẽ là bữa ăn cuối cùng với họ và chẳng bao lâu nữa ngài sẽ chết dưới tay của kẻ thù, Chúa Giê-su đã lợi dụng dịp này để giải thích nhiều vấn đề quan trọng cho các môn đồ thân cận nhất của ngài (Giăng 13:1–17:26).
2 Cũng vào dịp này, sau khi đuổi Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, Chúa Giê-su đã thiết lập một ngày lễ tôn giáo duy nhất mà các tín đồ đấng Christ phải cử hành hàng năm—Lễ Kỷ Niệm sự chết của ngài. Lời tường thuật kể lại: “Khi đương ăn, Đức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn rồi, bẻ ra đưa cho môn-đồ mà rằng: Hãy lấy ăn đi, nầy là thân-thể ta. Ngài lại lấy chén, tạ ơn rồi, đưa cho môn-đồ mà rằng: Hết thảy hãy uống đi; vì nầy là huyết ta, huyết của sự giao-ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội” (Ma-thi-ơ 26:26-28). Các môn đồ của Chúa Giê-su phải tưởng nhớ sự chết của ngài một cách đơn giản và trang nghiêm. Chúa Giê-su đã nhắc đến một giao ước liên quan đến sự chết của ngài. Trong lời tường thuật của sách Lu-ca, gọi là “giao-ước mới” (Lu-ca 22:20).
3. Những câu hỏi nào được nêu lên về giao ước mới?
3 Giao ước mới này là gì? Nếu đây là giao ước mới, thì phải chăng có nghĩa là có một giao ước cũ phải không? Còn có những giao ước nào khác liên quan với giao ước mới không? Đây là những câu hỏi quan trọng bởi vì Chúa Giê-su nói rằng huyết của giao ước sẽ được đổ ra để “tha tội”. Tất cả chúng ta đều rất cần được tha tội (Rô-ma 3:23).
Giao ước với Áp-ra-ham
4. Lời hứa nào từ thời xưa giúp chúng ta hiểu về giao ước mới?
4 Để hiểu về giao ước mới, chúng ta phải đi ngược lại gần 2.000 năm trước thời Chúa Giê-su làm thánh chức trên đất tức là thời kỳ khi Tha-rê và gia đình ông—gồm cả Áp-ram (sau này được gọi là Áp-ra-ham) và vợ của Áp-ram là Sa-rai (sau này được gọi là Sa-ra)—làm cuộc hành trình vất vả từ thành phố phồn thịnh U-rơ thuộc xứ Canh-đê đến Cha-ran ở miền bắc Mê-sô-bô-ta-mi. Họ ở lại đó cho đến khi Tha-rê qua đời. Rồi theo lệnh của Đức Giê-hô-va, Áp-ra-ham, lúc ấy đã 75 tuổi, vượt qua Sông Ơ-phơ-rát và đi về hướng tây nam đến xứ Ca-na-an để sống một cuộc đời du mục trong lều (Sáng-thế Ký 11:31-12:1, 4, 5; Công-vụ các Sứ-đồ 7:2-5). Lúc đó là vào năm 1943 TCN. Trong lúc Áp-ra-ham còn ở Cha-ran, Đức Giê-hô-va nói với ông: “Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi, rủa-sả kẻ nào rủa-sả ngươi; và các chi-tộc nơi thế-gian sẽ nhờ ngươi mà được phước”. Sau này, khi Áp-ra-ham đã vào trong xứ Ca-na-an, Đức Giê-hô-va nói thêm: “Ta sẽ ban cho dòng-dõi ngươi đất này!” (Sáng-thế Ký 12:2, 3, 7).
5. Lời hứa của Đức Giê-hô-va cho Áp-ra-ham liên hệ đến lời tiên tri quan trọng nào?
5 Lời hứa ban cho Áp-ra-ham có liên hệ đến một lời hứa khác của Đức Giê-hô-va. Thật vậy, lời hứa ấy đã khiến Áp-ra-ham trở thành một nhân vật chính trong lịch sử nhân loại, đóng góp vào sự ứng nghiệm lời tiên tri đầu tiên được ghi lại trong Kinh-thánh. Sau khi ông A-đam và bà Ê-va phạm tội trong vườn Ê-đen, Đức Giê-hô-va đã kết án cả hai người. Đồng thời ngài quay sang Sa-tan là kẻ đã lường gạt bà Ê-va, nói rằng: “Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng-dõi mầy cùng dòng-dõi người nữ nghịch-thù nhau. Người sẽ giày-đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chơn người” (Sáng-thế Ký 3:15). Việc Đức Giê-hô-va lập giao ước với Áp-ra-ham cho thấy rằng Dòng Dõi có quyền năng hủy phá các công việc của Sa-tan sẽ xuất thân từ dòng giống của ông.
6. a) Nhờ ai mà lời hứa của Đức Giê-hô-va cho Áp-ra-ham sẽ được thực hiện? b) Giao ước Áp-ra-ham là gì?
6 Vì lời hứa của Đức Giê-hô-va liên quan đến một dòng dõi, cho nên Áp-ra-ham cần có một người con trai để qua đó mà Dòng Dõi có thể xuất hiện. Nhưng ông và bà Sa-ra đã lớn tuổi và vẫn chưa có con. Tuy nhiên cuối cùng, Đức Giê-hô-va đã ban phước cho họ. Bằng phép lạ ngài đã hồi phục khả năng sinh sản của họ, và Sa-ra đã sanh cho Áp-ra-ham một đứa con trai, Y-sác. Như thế ngài đã bảo tồn lời hứa về dòng dõi (Sáng-thế Ký 17:15-17; 21:1-7). Nhiều năm sau đó, sau khi thử đức tin của Áp-ra-ham—thử đến mức xem ông có sẵn sàng dâng người con yêu dấu là Y-sác làm của tế lễ hay không—Đức Giê-hô-va đã lặp lại lời hứa của ngài cho Áp-ra-ham: “[Ta] sẽ ban phước cho ngươi, thêm dòng-dõi ngươi nhiều như sao trên trời, đông như cát bờ biển, và dòng-dõi đó sẽ chiếm được cửa thành quân nghịch. Bởi vì ngươi đã vâng theo lời dặn ta, nên các dân thế-gian đều sẽ nhờ dòng-dõi ngươi mà được phước” (Sáng-thế Ký 22:15-18). Lời hứa gia thêm này thường được gọi là giao ước Áp-ra-ham, và sau này giao ước mới sẽ có liên hệ chặt chẽ với giao ước đó.
7. Con cháu của Áp-ra-ham đã bắt đầu sinh sôi nảy nở như thế nào, và hoàn cảnh nào khiến họ định cư ở xứ Ê-díp-tô?
7 Cuối cùng, Y-sác có hai người con trai sinh đôi, Ê-sau và Gia-cốp. Đức Giê-hô-va chọn Gia-cốp trở thành tổ phụ của Dòng Dõi được hứa (Sáng-thế Ký 28:10-15; Rô-ma 9:10-13). Gia-cốp có 12 người con trai. Rõ ràng đã tới lúc để dòng dõi của Áp-ra-ham bắt đầu sinh sôi. Khi các con trai của Gia-cốp trưởng thành, nhiều người trong số họ đã có gia đình riêng, thì xảy ra một nạn đói kém buộc họ phải dọn xuống xứ Ê-díp-tô. Nơi đây nhờ sự dự phòng của Đức Chúa Trời, con trai của Gia-cốp là Giô-sép đã chuẩn bị trước cho họ (Sáng-thế Ký 45:5-13; 46:26, 27). Sau vài năm, nạn đói ở xứ Ca-na-an bớt đi phần nào. Nhưng gia đình của Gia-cốp ở lại xứ Ê-díp-tô—ban đầu là khách nhưng sau này là nô lệ. Mãi đến năm 1513 TCN, tức là 430 năm sau khi Áp-ra-ham băng qua sông Ơ-phơ-rát, Môi-se mới giải thoát các con cháu của Gia-cốp ra khỏi ách nô lệ của xứ Ê-díp-tô (Xuất Ê-díp-tô Ký 1:8-14; 12:40, 41; Ga-la-ti 3:16, 17). Đức Giê-hô-va bây giờ hướng sự chú ý đặc biệt đến giao ước của ngài với Áp-ra-ham (Xuất Ê-díp-tô Ký 2:24; 6:2-5).
“Giao ước cũ”
8. Đức Giê-hô-va đã ký kết điều gì với con cháu của Gia-cốp tại Si-na-i, và điều này có liên hệ gì với giao ước Áp-ra-ham?
8 Lúc dọn đến xứ Ê-díp-tô, Gia-cốp và các con của ông là một đại gia đình, nhưng khi rời xứ Ê-díp-tô thì con cháu của họ là một tập thể chi phái đông đảo (Xuất Ê-díp-tô Ký 1:5-7; 12:37, 38). Trước khi đưa họ vào xứ Ca-na-an, Đức Giê-hô-va dẫn họ đi về hướng nam đi về chân núi được gọi là núi Hô-rếp (hay Si-na-i) ở A-ra-bi. Tại đây, ngài lập một giao ước với họ. Giao ước này sau được gọi là “giao ước cũ” để phân biệt với “giao ước mới” (II Cô-rinh-tô 3:14). Qua giao ước cũ, Đức Giê-hô-va cho thấy trước làm thế nào ngài sẽ thực hiện lời giao ước của ngài với Áp-ra-ham.
9. a) Đức Giê-hô-va có hứa bốn điều gì qua giao ước Áp-ra-ham? b) Giao ước của Đức Giê-hô-va với dân Y-sơ-ra-ên cho họ có thêm triển vọng nào, và với điều kiện nào?
9 Đức Giê-hô-va giải thích cho dân Y-sơ-ra-ên biết các điều khoản của giao ước này: “Nếu các ngươi vâng lời ta và giữ sự giao-ước ta, thì trong muôn dân, các ngươi sẽ thuộc riêng về ta, vì cả thế-gian đều thuộc về ta. Các ngươi sẽ thành một nước thầy tế-lễ, cùng một dân-tộc thánh cho ta” (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:5, 6). Đức Giê-hô-va hứa rằng dòng dõi Áp-ra-ham sẽ 1) trở thành một dân lớn, 2) chiến thắng các kẻ thù nghịch của mình, 3) thừa hưởng xứ Ca-na-an, và 4) trở thành trung gian để các dân tộc khác được phước. Bây giờ ngài tiết lộ rằng chính họ có thể nhận được những ân phước này, với tư cách là dân tộc đặc biệt của ngài. Dân Y-sơ-ra-ên sẽ trở thành “một nước thầy tế-lễ, cùng một dân-tộc thánh” nếu họ vâng theo mệnh lệnh của ngài. Dân Y-sơ-ra-ên có đồng ý giữ giao ước này không? Họ thảy đều trả lời như một: “Chúng tôi xin làm mọi việc Đức Giê-hô-va đã phán dặn” (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:8).
10. Đức Giê-hô-va đã tổ chức dân Y-sơ-ra-ên thành một quốc gia như thế nào, và ngài đã đòi hỏi điều gì nơi họ?
10 Do đó, Đức Giê-hô-va tổ chức dân Y-sơ-ra-ên thành một quốc gia. Ngài ban cho họ luật pháp qui định cách thờ phượng và chi phối đời sống. Ngài cũng cung cấp một đền tạm (sau này, một đền thờ ở Giê-ru-sa-lem) và ban tế lễ để hầu việc tại đền tạm. Giữ giao ước có nghĩa là vâng theo các luật pháp của Đức Giê-hô-va và đặc biệt là thờ phượng chỉ một mình ngài mà thôi. Điều răn thứ nhất trong Mười Điều Răn, trọng tâm của những luật pháp ấy, nói rằng: “Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, đã rút ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, là nhà nô-lệ. Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:2, 3).
Các ân phước qua giao ước Luật Pháp
11, 12. Bằng cách nào những lời hứa trong giao ước cũ đã được ứng nghiệm cho dân Y-sơ-ra-ên?
11 Các lời hứa trong giao ước Luật Pháp có được ứng nghiệm cho dân Y-sơ-ra-ên không? Dân Y-sơ-ra-ên có trở thành “một dân-tộc thánh” không? Là con cháu của A-đam, người Y-sơ-ra-ên đều là những kẻ có tội (Rô-ma 5:12). Tuy nhiên, dưới Luật Pháp, người ta dâng của-lễ để chuộc tội. Về việc dâng của-lễ vào Ngày Lễ Chuộc Tội hàng năm, Đức Giê-hô-va phán: “Trong ngày đó người ta sẽ làm lễ chuộc tội cho các ngươi, để các ngươi được tinh-sạch; chắc các ngươi sẽ được sạch những tội-lỗi mình trước mặt Đức Giê-hô-va” (Lê-vi Ký 16:30). Vậy thì, khi dân Y-sơ-ra-ên trung thành vâng lời, họ hợp thành một dân tộc thánh, được rửa sạch để phụng sự Đức Giê-hô-va. Nhưng tình trạng trong sạch này tùy thuộc vào việc họ vâng theo Luật Pháp và tiếp tục dâng của-lễ.
12 Dân Y-sơ-ra-ên có trở thành “một nước thầy tế-lễ” không? Ngay từ lúc lập giao ước, dân Y-sơ-ra-ên là một vương quốc do Đức Giê-hô-va làm Vua trên trời (Ê-sai 33:22). Hơn nữa, giao ước Luật Pháp bao gồm những điều khoản cho phép người ta lên làm vua, để rồi sau này Đức Giê-hô-va có đại diện là những vua cai trị ở Giê-ru-sa-lem (Phục-truyền Luật-lệ Ký 17:14-18). Nhưng dân Y-sơ-ra-ên có phải là một nước thầy tế lễ không? Ở Y-sơ-ra-ên, có ban thầy tế lễ hầu việc tại đền tạm. Đền tạm (sau này là đền thờ) là trung tâm của sự thờ phượng thanh sạch cho người Y-sơ-ra-ên cũng như cho những người không thuộc dân Y-sơ-ra-ên. Và nước Y-sơ-ra-ên là cơ quan duy nhất mà Đức Giê-hô-va dùng để tiết lộ lẽ thật cho nhân loại (II Sử-ký 6:32, 33; Rô-ma 3:1, 2). Tất cả những người Y-sơ-ra-ên trung thành, chứ không chỉ riêng các thầy tế lễ thuộc chi phái Lê-vi, đều là những “kẻ làm chứng” của Đức Giê-hô-va. Nước Y-sơ-ra-ên là “đầy-tớ” của Đức Giê-hô-va, được thành lập để ‘hát khen-ngợi ngài’ (Ê-sai 43:10, 21). Nhiều người khiêm nhường thuộc dân ngoại đã thấy được quyền năng của Đức Giê-hô-va đã làm vì dân ngài và được sự thờ phượng thật thu hút. Họ đã nhập đạo Do Thái (Giô-suê 2:9-13). Nhưng thật ra chỉ có một chi phái phụng sự với tư cách là những thầy tế lễ được xức dầu.
Những người nhập đạo trong xứ Y-sơ-ra-ên
13, 14. a) Tại sao có thể nói rằng những người nhập đạo Do Thái không được tham dự trong giao ước Luật Pháp? b) Làm thế nào những người theo đạo cũng phục dưới giao ước Luật Pháp?
13 Những người đã nhập đạo có địa vị nào? Khi Đức Giê-hô-va lập giao ước, ngài chỉ lập giao ước với dân Y-sơ-ra-ên; những người thuộc “vô-số người ngoại-bang”, dù có mặt vào lúc ấy, nhưng không được ở trong giao ước đó (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:38; 19:3, 7, 8). Khi tính giá chuộc cho những con đầu lòng của người Y-sơ-ra-ên, những con đầu lòng thuộc người ngoại bang không được tính vào (Dân-số Ký 3:44-51). Nhiều thập niên sau, khi người ta chia đất đai xứ Ca-na-an cho các chi phái Y-sơ-ra-ên, những người tin đạo không phải là người Do Thái không được chia phần đất nào cả (Sáng-thế Ký 12:7; Giô-suê 13:1-14). Tại sao vậy? Bởi vì những người nhập đạo không ở trong giao ước Luật Pháp. Nhưng những người nam theo đạo vẫn phải chịu cắt bì để vâng theo Luật Pháp. Họ vẫn phải giữ các luật lệ, và nhận được ích lợi từ các điều khoản của Luật Pháp. Người theo đạo cũng như người Y-sơ-ra-ên đều phục dưới giao ước Luật Pháp (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:48, 49; Dân-số Ký 15:14-16; Rô-ma 3:19).
14 Ví dụ, nếu một người theo đạo lỡ tay làm chết người nào, thì giống như người Y-sơ-ra-ên, người ấy có thể chạy đến thành ẩn náu (Dân-số Ký 35:15, 22-25; Giô-suê 20:9). Vào Ngày Lễ Chuộc Tội, người ta dâng một của-lễ hy sinh “cho cả hội-chúng Y-sơ-ra-ên”. Là phần tử trong hội chúng, những người theo đạo cũng tham gia vào lễ nghi và được chuộc tội nhờ của-lễ hy sinh (Lê-vi Ký 16:7-10, 15, 17, 29; Phục-truyền Luật-lệ Ký 23:7, 8). Những người theo đạo đã kết hợp chặt chẽ với dân Y-sơ-ra-ên dưới Luật Pháp đến nỗi vào Lễ Ngũ Tuần năm 33 CN, khi “chìa-khóa nước thiên-đàng” đầu tiên được dùng cho người Do Thái, thì những người theo đạo cũng hưởng được. Kết quả là “Ni-cô-la, là người An-ti-ốt mới theo đạo Giu-đa” trở thành tín đồ đấng Christ và ở trong số “bảy người có danh tốt” được bổ nhiệm để lo cho các nhu cầu của hội thánh ở thành Giê-ru-sa-lem (Ma-thi-ơ 16:19; Công-vụ các Sứ-đồ 2:5-10; 6:3-6; 8:26-39).
Đức Giê-hô-va ban phước cho dòng dõi của Áp-ra-ham
15, 16. Làm thế nào giao ước của Đức Giê-hô-va với Áp-ra-ham đã được ứng nghiệm dưới giao ước Luật Pháp?
15 Khi con cháu của Áp-ra-ham được tổ chức thành một nước dưới Luật Pháp, Đức Chúa Trời ban phước cho họ phù hợp với lời mà ngài đã hứa cùng tộc trưởng Áp-ra-ham. Vào năm 1473 TCN, người kế vị Môi-se là Giô-suê đã dẫn dân Y-sơ-ra-ên vào xứ Ca-na-an. Cuộc chia đất đai sau đó giữa các chi phái đã làm ứng nghiệm lời hứa của Đức Giê-hô-va về việc ban cho dòng dõi Áp-ra-ham xứ Ca-na-an. Khi dân Y-sơ-ra-ên trung thành, Đức Giê-hô-va thực hiện lời hứa của ngài bằng cách cho họ chiến thắng các kẻ thù nghịch. Điều này đặc biệt đúng dưới triều đại Vua Đa-vít. Đến thời con trai của Đa-vít là Sa-lô-môn, thì khía cạnh thứ ba của giao ước Áp-ra-ham được ứng nghiệm. “Dân Giu-đa và Y-sơ-ra-ên đông như cát trên bờ biển, ăn uống và vui chơi” (I Các Vua 4:20).
16 Tuy nhiên, làm thế nào dân các nước sẽ được phước qua dân Y-sơ-ra-ên, dòng dõi của Áp-ra-ham? Như đã được nói đến, dân Y-sơ-ra-ên là một dân đặc biệt của Đức Giê-hô-va, đại diện cho ngài giữa dân ngoại. Không lâu trước khi dân Y-sơ-ra-ên tiến vào xứ Ca-na-an, Môi-se nói: “Hỡi các nước! hãy vui-mừng với dân Ngài” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 32:43). Nhiều người ngoại bang đã hưởng ứng. Đã có “vô-số người ngoại-bang” đi theo dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô. Họ đã chứng kiến quyền năng của Đức Giê-hô-va trong đồng vắng, và đã nghe lời kêu gọi của Môi-se là hãy vui mừng (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:37, 38). Sau này, người nữ Mô-áp tên là Ru-tơ đã lấy người Y-sơ-ra-ên là Bô-ô và trở thành tổ mẫu của đấng Mê-si (Ru-tơ 4:13-22). Người Kê-nít là Giô-na-đáp và con cháu của ông cùng Ê-bết-Mê-lết người Ê-thi-ô-bi đã nổi bật vì tuân theo những nguyên tắc công bình trong khi nhiều người Y-sơ-ra-ên xác thịt lại tỏ ra bất trung (II Các Vua 10:15-17; Giê-rê-mi 35:1-19; 38:7-13). Dưới thời đế quốc Phe-rơ-sơ, nhiều người ngoại bang trở thành những người theo đạo và đã cùng dân Y-sơ-ra-ên chống lại những kẻ thù của Y-sơ-ra-ên (Ê-xơ-tê 8:17).
Cần một giao ước mới
17. a) Tại sao Đức Giê-hô-va từ bỏ vương quốc phương bắc và phương nam của xứ Y-sơ-ra-ên? b) Điều gì đã dẫn đến việc người Do Thái bị từ bỏ lần cuối cùng?
17 Tuy nhiên, để Đức Chúa Trời làm trọn lời hứa của ngài, dân của Đức Chúa Trời phải trung thành. Nhưng dân ấy đã bất trung. Đành rằng cũng có những người Y-sơ-ra-ên có đức tin xuất sắc (Hê-bơ-rơ 11:32–12:1). Nhưng rất nhiều lần dân Y-sơ-ra-ên đã quay sang thờ lạy các thần ngoại giáo, hy vọng sẽ nhận được lợi ích vật chất (Giê-rê-mi 34:8-16; 44:15-18). Nhiều người đã áp dụng Luật Pháp một cách sai lầm hoặc lờ hẳn đi (Nê-hê-mi 5:1-5; Ê-sai 59:2-8; Ma-la-chi 1:12-14). Sau khi Sa-lô-môn qua đời, nước Y-sơ-ra-ên bị chia ra thành hai vương quốc, nước phương nam và nước phương bắc. Khi vương quốc ở phương bắc tỏ ra phản nghịch quá độ, Đức Giê-hô-va tuyên bố: “Bởi ngươi bỏ sự thông-biết thì ta cũng bỏ ngươi, đặng ngươi không làm thầy tế-lễ cho ta nữa” (Ô-sê 4:6). Vương quốc ở phương nam cũng bị trừng phạt nghiêm khắc bởi vì tỏ ra bất trung với giao ước (Giê-rê-mi 5:29-31). Khi dân Do Thái chối bỏ Chúa Giê-su là đấng Mê-si, thì Đức Giê-hô-va cũng từ bỏ họ (Công-vụ các Sứ-đồ 3:13-15; Rô-ma 9:31–10:4). Cuối cùng, Đức Giê-hô-va thiết lập một sắp đặt mới hầu làm ứng nghiệm trọn vẹn giao ước Áp-ra-ham (Rô-ma 3:20).
18, 19. Đức Giê-hô-va đã có sự sắp đặt mới nào để cho giao ước Áp-ra-ham có thể được ứng nghiệm một cách trọn vẹn?
18 Sự sắp đặt mới đó chính là giao ước mới. Đức Giê-hô-va đã báo trước về điều này khi ngài nói: “Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ lập một giao-ước mới với nhà Y-sơ-ra-ên và với nhà Giu-đa... Đức Giê-hô-va phán: Nầy là giao-ước mà ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên sau những ngày đó. Ta sẽ đặt luật-pháp ta trong bụng chúng nó và chép vào lòng. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta” (Giê-rê-mi 31:31-33).
19 Đây chính là giao ước mới mà Chúa Giê-su đã nói đến vào ngày 14 Ni-san, năm 33 CN. Vào dịp ấy, Chúa Giê-su tiết lộ rằng giao ước đã hứa sắp được ký kết giữa các môn đồ và Đức Giê-hô-va mà Chúa Giê-su làm đấng trung gian (I Cô-rinh-tô 11:25; I Ti-mô-thê 2:5; Hê-bơ-rơ 12:24). Qua giao ước mới này, lời hứa của Đức Giê-hô-va cho Áp-ra-ham sẽ được ứng nghiệm lâu dài và huy hoàng hơn, như chúng ta sẽ xem trong bài kế tiếp.
Bạn có thể giải thích không?
◻ Đức Giê-hô-va đã hứa điều gì trong giao ước Áp-ra-ham?
◻ Đức Giê-hô-va đã thi hành giao ước Áp-ra-ham cho dân Y-sơ-ra-ên xác thịt bằng cách nào?
◻ Những người nhập đạo đã nhận được lợi ích như thế nào từ giao ước cũ?
◻ Tại sao cần phải có giao ước mới?
[Hình nơi trang 9]
Qua giao ước Luật Pháp, Đức Giê-hô-va làm ứng nghiệm một phần nhỏ giao ước Áp-ra-ham