Thêm cho nhịn nhục sự tin kính
“Thêm cho đức-tin mình... sự nhịn-nhục, thêm cho nhịn-nhục sự tin-kính” (II PHI-E-RƠ 1:5, 6).
1, 2. a) Bắt đầu với thập niên 1930, chuyện gì xảy ra cho các Nhân-chứng Giê-hô-va trong những xứ dưới quyền kiểm soát của Quốc Xã, và tại sao? b) Dân sự Đức Giê-hô-va đối phó ra sao trước sự đối xử tàn ác đó?
MỘT thời kỳ đen tối của thế kỷ 20 bắt đầu trong thập niên 1930, hàng ngàn Nhân-chứng Giê-hô-va ở những xứ dưới quyền kiểm soát của Quốc Xã bị bắt giữ và giam cầm một cách bất công trong các trại tập trung. Tại sao thế? Bởi vì họ dám giữ sự trung lập và từ chối tôn vinh Hít-le. Họ đã bị đối xử như thế nào? “Không có nhóm tù nhân nào... bị lính cận vệ SS của Hít-le đối xử tàn ác như các học viên Kinh-thánh [Nhân-chứng Giê-hô-va]. Những sự hành hạ không thôi về thể xác và tinh thần cho thấy tính ác độc mà không ngôn từ nào trong thế gian có thể diễn tả nổi” (Karl Wittig, cựu viên chức chính quyền Đức).
2 Các Nhân-chứng đã đối phó ra sao? Tiến sĩ sử gia Christine E. King viết trong sách của bà (The Nazi State and the New Religions: Five Case Studies in Non-Conformity): “Chính quyền [Đức Quốc Xã] chỉ thất bại đối với các Nhân-chứng [so với các nhóm tôn giáo khác]”. Đúng vậy, Nhân-chứng Giê-hô-va nói chung đã giữ vững lập trường của họ, mặc dù hàng trăm người đã nhịn nhục cho đến chết.
3. Điều gì đã giúp các Nhân-chứng Giê-hô-va chịu đựng những thử thách nghiêm trọng?
3 Điều gì đã giúp cho Nhân-chứng Giê-hô-va chịu đựng các thử thách như thế, không những tại Đức Quốc Xã mà còn trên cả thế giới? Cha trên trời của họ đã giúp họ nhịn nhục vì sự tin kính của họ. Sứ đồ Phi-e-rơ giải thích: “Chúa biết cứu-chữa những người tin-kính khỏi cơn cám-dỗ” (II Phi-e-rơ 2:9). Cùng trong lá thơ này trước đó, Phi-e-rơ khuyên nhủ các tín đồ đấng Christ: “Thêm cho đức-tin mình... sự nhịn-nhục, thêm cho nhịn-nhục sự tin-kính” (II Phi-e-rơ 1:5, 6). Vậy sự nhịn nhục gắn liền với sự tin kính. Thật vậy, để nhịn nhục cho đến cùng, chúng ta phải theo đuổi sự tin kính và biểu lộ đức tính này (I Ti-mô-thê 6:11). Nhưng sự tin kính đích thực là gì?
Sự tin kính là gì?
4, 5. Sự tin kính là gì?
4 Danh từ Hy Lạp cho chữ “sự tin kính” (eu·seʹbei·a) có thể dịch ra theo nghĩa đen là “sự sùng kính thích đáng”a (II Phi-e-rơ 1:6). Từ ngữ này nói đến cảm giác nồng nàn đối với Đức Chúa Trời. Theo W. E. Vine, tĩnh từ eu·se·besʹ có nghĩa đen là “sùng kính thích đáng”, biểu thị cho “năng lực được bày tỏ qua hoạt động tin kính nhờ có sự tôn kính đối với Đức Chúa Trời” (II Phi-e-rơ 2:9).
5 Vì vậy, từ ngữ “sự tin kính” nói đến sự sùng kính hoặc thành tâm đối với Đức Giê-hô-va và đức tính này thúc giục chúng ta làm những gì vui lòng Ngài. Chúng ta làm thế ngay cả khi gặp phải những thử thách khó khăn bởi vì chúng ta hết lòng yêu thương Đức Chúa Trời. Đây là một sự gắn bó trung thành đối với Đức Giê-hô-va trên bình diện cá nhân, và bày tỏ qua cách sống của chúng ta. Tín đồ thật của đấng Christ được khuyến khích cầu nguyện để họ có thể sống “đời bình tịnh, yên ổn với đầy dẫy sự tin kính” (I Ti-mô-thê 2:1, 2, NW). Theo các nhà tự điển học J. P. Louw và E. A. Nida, “trong một số ngôn ngữ [eu·seʹbei·a] nơi I Ti-mô-thê 2:2 có thể được dịch một cách thích hợp là ‘sống theo cách mà Đức Chúa Trời muốn chúng ta sống’ hoặc ‘sống theo cách mà Đức Chúa Trời bảo chúng ta nên sống’ ”.
6. Có sự liên quan nào giữa hai đức tính nhịn nhục và tin kính?
6 Giờ đây chúng ta có thể hiểu rõ hơn sự liên quan giữa hai đức tính nhịn nhục và tin kính. Bởi vì chúng ta sống theo cách mà Đức Chúa Trời muốn chúng ta sống—với sự tin kính—điều này khiến thế gian ghen ghét chúng ta thì cố nhiên đức tin của chúng ta sẽ bị thử thách (II Ti-mô-thê 3:12). Nhưng chúng ta không thể nào chịu đựng được những thử thách như thế nếu không phải vì sự gắn bó của cá nhân chúng ta với Cha trên trời. Hơn nữa, Đức Giê-hô-va đáp lại sự thành tâm như thế. Hãy tưởng tượng Ngài cảm thấy thế nào khi ở trên trời nhìn xuống và quan sát những người cố hết sức để làm vui lòng Ngài bất chấp mọi sự chống đối vì họ thành tâm đối với Ngài. Chẳng lạ gì khi Ngài sẵn lòng “cứu-chữa những người tin-kính khỏi cơn cám-dỗ”!
7. Tại sao lòng tin kính phải được vun trồng?
7 Tuy nhiên, chúng ta không phải được sanh ra với lòng tin kính hay là chúng ta tự động có được vì cha mẹ là người tin kính (Sáng-thế Ký 8:21). Thay vì thế, lòng tin kính phải được vun trồng (I Ti-mô-thê 4:7, 10). Chúng ta phải cố gắng thêm sự tin kính vào tính nhịn nhục và đức tin của chúng ta. Phi-e-rơ nói muốn được điều này phải “gắng hết sức” (II Phi-e-rơ 1:5). Vậy thì làm sao chúng ta có thể có được sự tin kính?
Làm thế nào chúng ta có được sự tin kính?
8. Theo sứ đồ Phi-e-rơ, bí quyết để có được sự tin kính là gì?
8 Sứ đồ Phi-e-rơ giải thích bí quyết để có được sự tin kính. Ông nói: “Nguyền xin ân-điển và sự bình-an được gia-thêm cho anh em bởi sự nhận biết Đức Chúa Trời và Đức Chúa Giê-su, là Chúa chúng ta! Quyền-phép Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta mọi đều thuộc về sự sống và sự tin-kính, khiến chúng ta biết Đấng lấy vinh-hiển và nhơn-đức mà gọi chúng ta” (II Phi-e-rơ 1:2, 3). Vậy thì để thêm sự tin kính vào đức tin và tính nhịn nhục, chúng ta phải tấn tới trong sự hiểu biết chính xác, tức là sự hiểu biết đầy đủ hoặc trọn vẹn về Giê-hô-va Đức Chúa Trời và Giê-su Christ.
9. Hãy dùng thí dụ để cho thấy rằng việc có sự hiểu biết chính xác về Đức Chúa Trời và đấng Christ bao hàm nhiều điều hơn là chỉ biết họ là ai.
9 Có sự hiểu biết chính xác về Đức Chúa Trời và đấng Christ nghĩa là gì? Rõ ràng là việc biết hai Đấng này là ai mà thôi thì không đủ. Để thí dụ: Bạn có lẽ biết người hàng xóm của bạn là ai và có lẽ biết cả tên người đó để chào hỏi nữa. Nhưng bạn có muốn cho người đó mượn một số tiền lớn không? Dĩ nhiên là không, trừ khi bạn biết rõ người đó là loại người nào. (So sánh Châm-ngôn 11:15). Tương tợ như thế, hiểu biết về Đức Giê-hô-va và Giê-su một cách chính xác hoặc trọn vẹn bao hàm nhiều điều hơn là chỉ tin rằng họ hiện hữu và biết đến danh của họ. Để sẵn sàng vì họ mà chịu đựng mọi sự thử thách ngay cả đến chết, chúng ta phải thật sự biết họ một cách mật thiết (Giăng 17:3). Điều này bao hàm những gì?
10. Có sự hiểu biết chính xác về Đức Giê-hô-va và Giê-su bao hàm hai điều nào, và tại sao?
10 Có sự hiểu biết chính xác hoặc trọn vẹn về Đức Giê-hô-va và Giê-su bao hàm hai điều: 1) học biết về các đức tính, cảm giác và đường lối của hai Đấng này và 2) bắt chước gương mẫu của họ. Sự tin kính đòi hỏi phải hết lòng gắn bó với Đức Giê-hô-va trên bình diện cá nhân và điều này thể hiện qua lối sống của chúng ta. Vì vậy, để có được sự tin kính, chúng ta phải biết rõ về Đức Giê-hô-va và hoàn toàn quen thuộc với ý định và đường lối của Ngài đến mức độ mà loài người có thể hiểu được. Để thật sự biết Đức Giê-hô-va, chúng ta phải dùng sự hiểu biết như thế và cố gắng để giống Ngài vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Ngài (Sáng-thế Ký 1:26-28; Cô-lô-se 3:10). Cũng vì Giê-su hoàn toàn bắt chước Đức Giê-hô-va trong những gì ngài nói và làm, sự hiểu biết chính xác về Giê-su sẽ giúp chúng ta phát triển lòng tin kính (Hê-bơ-rơ 1:3).
11. a) Làm sao chúng ta có thể có được sự hiểu biết chính xác về Đức Chúa Trời và đấng Christ? b) Tại sao suy gẫm về những điều chúng ta đọc là quan trọng?
11 Vậy thì làm sao chúng ta có thể có được sự hiểu biết chính xác về Đức Chúa Trời và đấng Christ? Bằng cách siêng năng học hỏi Kinh-thánh và các ấn phẩm căn cứ trên Kinh-thánh.b Tuy nhiên, nếu muốn việc học hỏi Kinh-thánh cá nhân giúp chúng ta có được sự tin kính thì điều thiết yếu là chúng ta phải dành thì giờ để suy gẫm, tức là hồi tưởng hoặc ngẫm nghĩ về những gì chúng ta đọc. (So sánh Giô-suê 1:8). Tại sao điều này là quan trọng? Hãy nhớ rằng lòng tin kính là cảm giác nồng nàn đối với Đức Chúa Trời. Trong Kinh-thánh, sự suy gẫm thường được liên kết với tấm lòng—con người bề trong (Thi-thiên 19:14; 49:3; Châm-ngôn 15:28). Khi chúng ta ngẫm nghĩ với lòng biết ơn về những gì chúng ta đọc, điều đó thấm vào con người bề trong, vì thế mà khơi dậy các cảm giác của chúng ta, làm động lòng chúng ta và ảnh hưởng đến lối suy nghĩ của chúng ta. Chỉ khi nào làm thế thì sự học hỏi mới có thể làm vững mạnh sự gắn bó của cá nhân chúng ta với Đức Giê-hô-va và khiến chúng ta theo một lối sống làm vui lòng Đức Chúa Trời ngay cả trong hoàn cảnh thử thách hoặc khó khăn.
Thực hành sự tin kính tại nhà
12. a) Theo Phao-lô, làm sao một tín đồ đấng Christ có thể thực hành sự tin kính tại nhà? b) Tại sao tín đồ thật của đấng Christ chăm sóc cha mẹ già?
12 Chúng ta phải thực hành sự tin kính trước hết tại nhà. Sứ đồ Phao-lô nói: “Nếu bà góa có con hoặc cháu, thì con cháu trước phải học làm đều thảo đối với nhà riêng mình và báo-đáp cha mẹ; vì đều đó đẹp lòng Đức Chúa Trời” (I Ti-mô-thê 5:4). Chăm sóc cha mẹ già, như lời sứ đồ Phao-lô nhận xét, là bày tỏ sự tin kính. Tín đồ thật của đấng Christ chăm sóc cha mẹ như thế không phải chỉ vì bổn phận nhưng vì tình yêu thương đối với cha mẹ. Tuy nhiên, hơn thế nữa, họ nhận biết là Đức Giê-hô-va xem trọng sự kiện một người chăm sóc cho nhà riêng mình. Họ biết rõ rằng bỏ rơi cha mẹ trong lúc khó khăn thì cũng tương đương với việc ‘chối bỏ đức tin của tín đồ đấng Christ’ (I Ti-mô-thê 5:8).
13. Tại sao việc thực hành sự tin kính tại nhà có thể là chuyện khó khăn, nhưng chúng ta có sự thỏa lòng nào khi chăm sóc cha mẹ?
13 Công nhận là thực hành sự tin kính tại nhà không phải lúc nào cũng dễ. Những người trong gia đình có lẽ ở cách xa nhau. Con cái lớn có thể phải nuôi gia đình riêng và có lẽ đang gặp khó khăn về kinh tế. Cha hay mẹ cần sự chăm sóc nhiều đến độ có thể làm cho con cái mệt mỏi về mặt thể chất, tinh thần và tình cảm. Tuy nhiên, chúng ta được thỏa lòng thật sự khi biết rằng việc chăm sóc cha mẹ không phải chỉ là “sự báo đáp”, nhưng cũng làm vui lòng Đấng mà “cả nhà trên trời và dưới đất đều được đặt tên” (Ê-phê-sô 3:14, 15).
14, 15. Hãy kể lại gương của những người con chăm sóc cha với lòng tin kính.
14 Chúng ta hãy xem một gương rất cảm động: Ellis và năm anh chị em của anh đã gặp trường hợp thật khó khăn khi phải chăm sóc cho cha tại nhà. Anh giải thích: “Năm 1986, cha tôi bị đột quỵ (stroke) làm cho cha hoàn toàn bị bại xụi”. Cả sáu đứa con thay phiên nhau săn sóc cha, từ việc tắm rửa đến việc đều đặn lật mình cha bên này qua bên kia để khỏi bị lở loét vì nằm liệt giường. “Chúng tôi đọc cho cha, nói chuyện với cha và vặn nhạc cho cha nghe. Chúng tôi không biết là cha có nhận thức được những gì xảy ra ở chung quanh hay không, nhưng chúng tôi đối xử với cha như là cha ý thức được mọi sự”.
15 Tại sao các con cái chăm sóc cho cha họ đến độ đó? Ellis nói tiếp: “Sau khi mẹ chúng tôi chết năm 1964, một mình cha làm gà trống nuôi con. Lúc đó, chúng tôi ở khoảng tuổi từ 5 đến 14. Hồi đó cha ở cạnh chúng tôi thì bây giờ chúng tôi phải ở cạnh cha”. Rõ ràng là chăm sóc như vậy không phải dễ, và các con cái có khi chán nản. Ellis nói: “Nhưng chúng tôi biết rằng tình trạng của cha chỉ là một vấn đề tạm thời mà thôi. Chúng tôi luôn nghĩ đến lúc mà cha được phục hồi sức khỏe hoàn toàn và tất cả gia đình cha mẹ lẫn con cái được sum họp vui vầy” (Ê-sai 33:24; Giăng 5:28, 29). Chắc chắn Đấng đã phán bảo con cái phải tôn kính cha mẹ sẽ vui lòng biết bao khi thấy con cái hết lòng chăm sóc cha mẹ!c (Ê-phê-sô 6:1, 2).
Sự tin kính và thánh chức
16. Điều gì phải là lý do chính cho những gì chúng ta làm trong thánh chức?
16 Khi chúng ta chấp nhận lời mời của Giê-su để ‘theo ngài luôn luôn’, chúng ta nhận lãnh một sứ mạng là rao giảng tin mừng về Nước Trời và đào tạo môn đồ (Ma-thi-ơ 16:24; 24:14; 28:19, 20). Hiển nhiên, việc tham gia vào thánh chức là một bổn phận của tín đồ đấng Christ trong “ngày sau-rốt” này (II Ti-mô-thê 3:1). Tuy nhiên, động lực thúc đẩy chúng ta rao giảng và dạy dỗ không phải chỉ vì bổn phận hoặc vì bắt buộc, mà còn hơn thế nữa. Tình yêu thương sâu đậm đối với Đức Giê-hô-va phải là lý do chính cho những gì chúng ta làm và làm bao nhiêu trong thánh chức. Giê-su nói: “Bởi vì do sự đầy-dẫy trong lòng mà miệng mới nói ra” (Ma-thi-ơ 12:34). Đúng vậy, khi lòng của chúng ta tràn đầy tình yêu thương đối với Đức Giê-hô-va, chúng ta cảm thấy như có gì thúc giục mình làm chứng về Ngài với người khác. Khi động lực thúc đẩy chúng ta là tình yêu thương đối với Đức Chúa Trời thì thánh chức chúng ta mới bày tỏ trọn lòng tin kính của chúng ta.
17. Làm sao chúng ta có thể vun trồng động lực đúng cho công việc thánh chức?
17 Làm sao chúng ta có thể vun trồng động lực đúng cho công việc thánh chức? Hãy suy nghĩ với lòng biết ơn về ba lý do mà Đức Giê-hô-va đã cho chúng ta để yêu thương Ngài. 1) Chúng ta yêu thương Đức Giê-hô-va vì những gì Ngài đã làm cho chúng ta. Ngài không thể bày tỏ tình yêu thương nào lớn hơn là việc cung cấp giá chuộc cho chúng ta (Ma-thi-ơ 20:28; Giăng 15:13). 2) Chúng ta yêu thương Đức Giê-hô-va vì những gì Ngài đang làm cho chúng ta. Chúng ta có sự nói năng dạn dĩ với Đức Giê-hô-va, Đấng nhậm lời cầu nguyện của chúng ta (Thi-thiên 65:2; Hê-bơ-rơ 4:14-16). Khi chúng ta đặt Nước Trời lên hàng đầu, chúng ta hưởng được mọi sự cần thiết trong đời sống (Ma-thi-ơ 6:25-33). Chúng ta lúc nào cũng nhận được đồ ăn thiêng liêng, nhờ đó mà chúng ta có sức đương đầu với những vấn đề chúng ta gặp phải (Ma-thi-ơ 24:45). Và chúng ta có ân phước được ở trong hiệp hội các anh em tín đồ đấng Christ trên khắp thế giới làm cho chúng ta tách rời khỏi thế gian chung quanh (I Phi-e-rơ 2:17). 3) Chúng ta cũng yêu thương Đức Giê-hô-va vì những gì Ngài sẽ làm cho chúng ta. Vì lòng yêu thương của Ngài, chúng ta “cầm lấy sự sống thật”—sự sống đời đời trong tương lai (I Ti-mô-thê 6:12, 19). Khi chúng ta xem xét tình yêu thương của Đức Giê-hô-va dành cho chúng ta, chắc chắn lòng của chúng ta sẽ thúc đẩy mình để tận tâm nói với những người khác về Ngài và ý định cao quí của Ngài! Những người khác không cần bảo chúng ta phải làm gì hay là làm bao nhiêu trong thánh chức. Lòng của chúng ta sẽ thúc đẩy mình làm những gì có thể được.
18, 19. Một chị đã vượt qua được trở ngại nào để dự phần trong thánh chức?
18 Dù trong hoàn cảnh khó khăn, lòng tin kính sẽ thúc đẩy người ta nói. (So sánh Giê-rê-mi 20:9). Trường hợp của Stella cho thấy rõ điều này. Stella là một nữ tín đồ đấng Christ rất nhút nhát. Khi mới bắt đầu học Kinh-thánh, chị nghĩ thầm: ‘Tôi không bao giờ có thể đi từ nhà này sang nhà kia!’ Chị giải thích: “Tôi luôn luôn ít nói. Tôi không bao giờ có thể đến gần ai để mở đầu câu chuyện được”. Khi chị tiếp tục học hỏi, tình yêu thương của chị đối với Đức Giê-hô-va ngày càng gia tăng, và trong lòng chị nẩy lên một ước muốn nôn nóng nói với người khác về Ngài. “Tôi nhớ là đã nói với người dạy Kinh-thánh cho tôi: ‘Em muốn nói hết sức, nhưng em không thể nói được, vì vậy em thấy khó chịu lắm’. Tôi không bao giờ quên những gì chị ấy nói với tôi: ‘Stella, em muốn nói là điều đáng quí rồi’ ”.
19 Chẳng bao lâu, Stella làm chứng với người hàng xóm. Rồi chị tiến thêm một bước đáng ghi nhớ—lần đầu tiên chị dự phần trong công việc rao giảng từ nhà này sang nhà kia (Công-vụ các Sứ-đồ 20:20, 21). Chị nhớ lại: “Tôi viết sẵn ra những gì phải nói. Nhưng tôi sợ đến nỗi mặc dù tấm giấy ở trước mặt tôi, tôi run đến độ không dám nhìn xuống giấy!” Giờ đây hơn 35 năm sau, bản tính tự nhiên của chị Stella vẫn rất nhút nhát. Nhưng chị yêu thích công việc thánh chức và tiếp tục góp phần trong công việc này.
20. Gương nào cho thấy ngay cả sự bắt bớ hoặc tù đày cũng không thể bịt miệng các Nhân-chứng Giê-hô-va thành tâm?
20 Cả đến sự bắt bớ hoặc tù đày cũng không thể nào bịt miệng những Nhân-chứng Giê-hô-va thành tâm. Hãy xem gương của anh chị Ernst và Hildegard Seliger ở Đức. Vì đức tin, cả hai anh chị đã ở tổng cộng hơn 40 năm trong trại tập trung Quốc Xã và nhà tù của Cộng Sản. Dù bị ở tù, họ bền lòng làm chứng cho những tù nhân khác. Chị Hildegard nhớ lại: “Những viên chức trong tù liệt tôi vào hạng người đặc biệt nguy hiểm, bởi vì, như một nữ cai tù có nói, tôi nói về Kinh-thánh cả ngày. Vì vậy tôi bị giam trong ngục dưới hầm”. Cuối cùng sau khi được thả, anh chị Seliger dâng trọn thì giờ cho thánh chức của tín đồ đấng Christ. Cả hai người phụng sự trung thành cho đến chết, anh Seliger chết năm 1985 và vợ anh chết năm 1992.
21. Chúng ta phải làm gì để thêm sự tin kính vào tính nhịn nhục của chúng ta?
21 Bằng cách chăm chỉ học hỏi Lời của Đức Chúa Trời và dành thì giờ ra để suy gẫm với lòng biết ơn về những gì chúng ta học, chúng ta sẽ tấn tới trong sự hiểu biết chính xác về Đức Giê-hô-va và Giê-su Christ. Rồi sự hiểu biết này sẽ giúp chúng ta phát triển sự tin kính, một đức tính đáng quí, trong mức độ đầy đủ hơn. Nếu không có sự tin kính, chúng ta không thể nào chịu đựng được các thử thách đến với các tín đồ đấng Christ. Vậy chúng ta hãy theo lời khuyên nhủ của sứ đồ Phi-e-rơ, tiếp tục ‘thêm cho đức tin mình sự nhịn nhục và thêm cho nhịn nhục sự tin kính’ (II Phi-e-rơ 1:5, 6).
[Chú thích]
a Về chữ eu·seʹbei·a, William Barclay nhận xét: “Phần seb- [chữ gốc] có nghĩa là sự sùng kính hay thờ phượng. Eu trong tiếng Hy Lạp là thích đáng; vì thế, eusebeia là thờ phượng, sùng kính thích đáng và đặt đúng chỗ” (New Testament Words).
b Tháp Canh, số ra ngày 15-5-1994, trang 12-17 có cho biết cách học làm sao để hiểu biết sâu xa về Lời Đức Chúa Trời.
c Tháp Canh (Anh ngữ) số ra ngày 1-6-1987, trang 13-18 có bàn về cách thực hành sự tin kính đối với cha mẹ già.
Bạn trả lời thế nào?
◻ Sự tin kính là gì?
◻ Có sự liên quan nào giữa hai đức tính nhịn nhục và tin kính?
◻ Bí quyết để có được sự tin kính là gì?
◻ Một tín đồ đấng Christ có thể thực hành sự tin kính tại nhà thế nào?
◻ Điều gì phải là lý do chính cho những gì chúng ta làm trong thánh chức?
[Hình nơi trang 18]
Nhân-chứng Giê-hô-va bày tỏ tính nhịn nhục và lòng tin kính khi bị tù trong trại tập trung Quốc Xã tại Ravensbrück