Chớ trật mục đích của sự tự do mà Đức Chúa Trời ban cho
“Thánh-Linh của Chúa ở đâu, thì sự tự-do cũng ở đó” (II CÔ-RINH-TÔ 3:17).
1. Tại sao Ê-sai 65:13, 14 áp dụng cho Nhân-chứng Giê-hô-va?
ĐỨC GIÊ-HÔ-VA là Đức Chúa Trời của sự tự do. Và sự tự do mà Đức Chúa Trời ban cho thật là một ân phước lớn thay! Bởi vì dân sự sốt sắng của Ngài có được sự tự do đó nên những lời sau đây của Chúa Tối thượng Giê-hô-va áp dụng cho họ: “Vậy nên Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, các tôi-tớ ta sẽ ăn, còn các ngươi thì đói; nầy, tôi-tớ ta sẽ uống, còn các ngươi thì khát; nầy tôi-tớ ta sẽ được vui-vẻ, còn các ngươi thì bị nhuốc-nha; nầy, tôi-tớ ta sẽ hát mừng vì lòng đầy vui-vẻ, còn các ngươi thì khóc-lóc vồ lòng buồn-bực, kêu-than vì tâm-thần phiền-não” (Ê-sai 65:13, 14).
2. Tại sao dân sự của Đức Giê-hô-va thịnh vượng về phương diện thiêng liêng?
2 Dân sự của Đức Chúa Trời vui hưởng trạng thái thiêng liêng thịnh vượng này bởi vì họ để cho thánh linh, tức sinh hoạt lực của Ngài, hướng dẫn. Sứ đồ Phao-lô nói: “Chúa tức là [Thần linh], Thánh-Linh của Chúa ở đâu, thì sự tự-do cũng ở đó” (II Cô-rinh-tô 3:17). Mục đích của sự tự do mà Đức Chúa Trời ban cho là gì? Và điều gì đòi hỏi nơi chúng ta hầu có thể tận dụng sự tự do đó?
Sự tự do mà Đức Chúa Trời có
3. Đức Chúa Trời có loại tự do nào, và tại sao?
3 Chỉ một mình Đức Giê-hô-va có sự tự do tuyệt đối. Không một tạo vật nào của Ngài có thể giới hạn sự tự do của Ngài vì Ngài là Đức Chúa Trời Toàn năng và là Đấng Thống trị Hoàn vũ. Như người trung thành Gióp nói, “ai ngăn-trở Ngài được? Ai sẽ nói với Ngài rằng: Chúa làm chi vậy?” (Gióp 9:12). Tương tự thế, vua Nê-bu-cát-nết-sa của nước Ba-by-lôn xưa buộc phải nhìn nhận: “Chẳng ai có thể cản tay [Đức Chúa Trời] và hỏi rằng: Ngài làm chi vậy?” (Đa-ni-ên 4:35).
4. Đức Giê-hô-va hạn chế sự tự do của Ngài thế nào?
4 Tuy nhiên, chính các nguyên tắc công bình của Đức Giê-hô-va hạn chế sự tự do tuyệt đối đó. Điều này được thấy rõ khi Áp-ra-ham biểu lộ mối quan tâm đến những người dân thành Sô-đôm và hỏi: “Đấng đoán-xét toàn thế-gian, há lại không làm sự công-bình sao?” Câu trả lời của Đức Giê-hô-va cho thấy Ngài nhìn nhận trách nhiệm luôn luôn làm điều công bình. Ngài hẳn sẽ không hủy diệt thành Sô-đôm nếu như vẫn còn một số người dân công bình ở trong đó (Sáng-thế Ký 18:22-33). Đức Chúa Trời cũng hạn chế sự tự do của Ngài bởi vì tình yêu thương và sự khôn sáng của Ngài làm cho Ngài chậm giận và Ngài thực hành sự tự chủ (Ê-sai 42:14).
Sự tự do của loài người có giới hạn
5. Một số yếu tố giới hạn sự tự do của con người là gì?
5 Mặc dù Đức Giê-hô-va có sự tự do tuyệt đối, tất cả các tạo vật đều hành động trong những phạm vi có giới hạn bởi bản tính bẩm sinh, khả năng và nơi cư ngụ cũng như các yếu tố hiện hạn chế tuổi thọ của loài người tội lỗi. Đức Chúa Trời dựng nên loài người với sự tự do hoàn toàn để sống trong lãnh vực mà Đức Chúa Trời đã đặt ra cho con người. Còn nhiều lý do khác khiến sự tự do của con người bị hạn chế, chứ không phải tuyệt đối.
6. Trách nhiệm đối với Đức Chúa Trời liên quan gì đến sự tự do của chúng ta?
6 Thứ nhất, con người bị giới hạn bởi vì Đức Chúa Trời tạo ra họ để phục vụ cho ý định của Ngài. Đức Giê-hô-va “đáng được vinh-hiển, tôn-quí và quyền-lực; vì Chúa đã dựng nên muôn vật, và ấy là vì ý-muốn Chúa mà muôn-vật mới có và đã được dựng nên” (Khải-huyền 4:11). Vậy con người có trách nhiệm đối với Đấng Tạo hóa. Ngài có quyền chính đáng đặt ra luật pháp để cai quản họ. Trong luật pháp Môi-se thời xưa ban cho dân Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời đòi hỏi phải xử tử kẻ nào phạm thượng đến danh Ngài hoặc vi phạm luật pháp về ngày Sa-bát (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:7; 31:14, 15; Lê-vi Ký 24:13-16; Dân-số Ký 15:32-36). Tuy chúng ta không ở dưới Luật pháp với tư cách tín đồ đấng Christ, sự tự do của chúng ta có giới hạn bởi vì chúng ta có trách nhiệm đối với Đức Giê-hô-va. Ngài là Quan xét, Đấng Lập luật và Vua của chúng ta (Ê-sai 33:22; Rô-ma 14:12).
7, 8. a) Các định luật vật lý giới hạn sự tự do của con người như thế nào? b) Các luật pháp nào khác của Đức Chúa Trời giới hạn sự tự do của con người chúng ta?
7 Thứ hai, sự tự do của con người bị giới hạn bởi các định luật vật lý của Đức Chúa Trời. Thí dụ, vì cớ định luật về trọng lực, một người không thể nhảy từ nhà chọc trời xuống đất mà không bị thương hay chết. Rõ ràng là các định luật của Đức Chúa Trời về vật lý giới hạn sự tự do hành động của con người.
8 Thứ ba, sự tự do của con người bị giới hạn bởi các luật pháp đạo đức của Đức Chúa Trời. Rất có thể bạn đã nghiệm thấy những lời của sứ đồ Phao-lô viết nơi Ga-la-ti 6:7, 8 là đúng sự thật: “Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh-dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy. Kẻ gieo cho xác-thịt, sẽ bởi xác-thịt mà gặt sự hư-nát; song kẻ gieo cho Thánh-Linh, sẽ bởi Thánh-Linh mà gặt sự sống đời đời”. Không thể chối cãi được, các luật pháp đạo đức của Giê-hô-va Đức Chúa Trời cũng giới hạn sự tự do của chúng ta, nhưng nếu muốn đạt được sự sống đời đời, chúng ta cần phải tuân theo luật pháp.
9. Sự kiện chúng ta là thành phần của xã hội loài người giới hạn sự tự do của chúng ta như thế nào?
9 Thứ tư, sự tự do của con người bị giới hạn bởi vì họ là phần tử của xã hội loài người. Do đó, một người được tự do miễn là không xâm phạm trái phép đến sự tự do của người khác. Tín đồ đấng Christ phải vâng phục “các đấng cầm quyền trên mình”; phải tuân theo luật lệ của nhà cầm quyền miễn là họ không đòi hỏi chúng ta vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời (Rô-ma 13:1; Công-vụ các Sứ-đồ 5:29). Thí dụ chúng ta nên tuân theo luật lệ lưu thông, nộp thuế, v.v... Sự kiện chúng ta phải tuân theo luật pháp của “Sê-sa” cho thấy sự tự do mà Đức Chúa Trời ban cho chúng ta không phải là sự tự do tuyệt đối (Mác 12:17; Rô-ma 13:7).
Tại sao tự do tương đối?
10, 11. Tại sao Đức Giê-hô-va ban cho con người sự tự do tương đối?
10 Tại sao Đức Chúa Trời ban cho loài người sự tự do tương đối? Một lý do là để cho các tạo vật thông minh trên đất tôn vinh và ngợi khen Đấng Tạo hóa qua lời nói và hạnh kiểm tốt của họ. Loài người làm được điều này trong khi loài thú thì không. Thú vật không biết gì về hạnh kiểm đạo đức, bởi vì chúng sống theo bản năng. Chúng ta có thể luyện tập cho con chó không lấy một đồ gì, nhưng không thể dạy nó hiểu ăn cắp là quấy. Thú vật không thể quyết định ngợi khen và tôn vinh Đức Chúa Trời, vì các hành động của chúng có thể nói như đã định trước, trong khi con người được tự do lựa chọn phụng sự Đấng Tạo hóa của mình vì lòng yêu thương và biết ơn đối với Ngài.
11 Đức Chúa Trời cũng ban cho loài người sự tự do tương đối vì lợi ích và hạnh phúc của họ. Họ có thể thực hành sự tự do tương đối để sáng chế và phát minh, tỏ ra thương người và hợp tác. Con người cũng có sự tự do lựa chọn trong các vấn đề như nghề nghiệp và nơi cư ngụ. Ngày nay, các yếu tố chính trị và kinh tế thường hạn chế sự tự do lựa chọn ấy, nhưng đó là do lòng tham của loài người chứ không phải vì Đức Chúa Trời đã tạo ra loài người như thế lúc ban đầu.
12. Tại sao phần đông nhân loại nằm trong vòng nô lệ?
12 Tuy Đức Giê-hô-va ban cho con người nhiều tự do, đại đa số loài người ngày nay sống trong vòng nô lệ chán chường. Điều gì đã xảy ra? Cặp vợ chồng đầu tiên là A-đam và Ê-va đã trật mục đích của sự tự do mà Đức Chúa Trời ban cho. Họ vượt quá giới hạn mà Đức Chúa Trời đã ấn định cho sự tự do của họ và thách đố quyền thống trị chính đáng của Đức Chúa Trời là Chúa Tối thượng Giê-hô-va (Sáng-thế Ký 3:1-7; Giê-rê-mi 10:10; 50:31). Họ đã không hài lòng dùng sự tự do của họ để tôn vinh Đức Chúa Trời, mà lại dùng sự tự do đó một cách ích kỷ để tự ý quyết định điều thiện và điều ác. Do đó, họ hùa theo Sa-tan phản nghịch lại Đức Giê-hô-va. Tuy nhiên, thay vì đạt được tự do nhiều hơn, A-đam và Ê-va đã phạm tội và bị hạn chế và bó buộc khó khăn khiến sự tự do của họ kém đi nhiều và cuối cùng phải chết. Con cháu của họ thừa hưởng sự mất mát tự do này. “Mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh-hiển của Đức Chúa Trời”. “Tiền công của tội-lỗi là sự chết” (Rô-ma 3:23; 5:12; 6:23).
13. Tại sao Sa-tan đã có thể bắt nhân loại làm nô lệ?
13 Vì sự phản nghịch trong vườn Ê-đen, A-đam và con cháu cũng rơi vào vòng nô lệ của Sa-tan Ma-quỉ. “Cả thế-gian đều phục dưới quyền ma-quỉ” (I Giăng 5:19). Bởi Sa-tan có quyền lực và khả năng cao hơn, hắn có thể lừa dối cả thế gian và buộc mọi người trong thế gian phải ở trong vòng nô lệ, xa cách Đức Chúa Trời. Hơn nữa, những kẻ ích kỷ đã cai trị người đồng loại và gây tai hại cho họ (Truyền-đạo 8:9). Bởi thế bây giờ nhân loại nói chung bị nô lệ cho bệnh tật và sự chết, cho Sa-tan và các quỉ sứ hắn, và cho các hệ thống chính trị, kinh tế và tôn giáo của thế gian.
Mở đường cho sự tự do thật
14. Việc nhân loại hy vọng có sự tự do thật sự liên quan đến điều gì?
14 Việc có được sự tự do, thoát khỏi tội lỗi, sự chết và Ma-quỉ cùng thế gian của hắn liên quan đến việc Đức Giê-hô-va nhất định giải quyết cuộc tranh chấp liên quan đến quyền thống trị hoàn vũ chính đáng của Ngài. Bởi lẽ Sa-tan nêu lên cuộc tranh chấp này, Đức Giê-hô-va đã để cho hắn tiếp tục hiện hữu, tựa như việc Ngài cho phép Pha-ra-ôn sống thêm một thời gian. Đó là hầu cho Đức Giê-hô-va có thể chứng tỏ trọn vẹn quyền năng của Ngài và hầu cho danh Ngài được đồn ra khắp đất (Xuất Ê-díp-tô Ký 9:15, 16). Chẳng bao lâu nữa, Đức Chúa Trời sẽ biện minh rằng Ngài là Đấng Thống trị hoàn vũ và làm cho danh Ngài được nên thánh bằng cách tẩy sạch sự sỉ nhục mà sự phản nghịch của Sa-tan, A-đam và Ê-va đã gây ra cho danh Ngài. Do đó những người kính sợ Đức Giê-hô-va sẽ được giải thoát khỏi vòng nô lệ của tội lỗi và sự chết và bước vào một thế giới mới có sự tự do mà Đức Chúa Trời ban cho (Rô-ma 8:19-23).
15. Chúa Giê-su đóng vai trò nào trong việc lập lại sự tự do cho nhân loại?
15 Để khôi phục sự tự do cho loài người, Đức Giê-hô-va phái Con một của Ngài xuống đất làm người. Bằng cách tự nguyện hy sinh đời sống của người hoàn toàn, Giê-su Christ, Con của Đức Chúa Trời, đã cung cấp sự hy sinh làm giá chuộc—điều căn bản để giải phóng loài người (Ma-thi-ơ 20:28). Chúa Giê-su cũng rao báo một thông điệp tự do. Khi bắt đầu làm thánh chức, ngài cho biết những lời như sau được ứng nghiệm nơi chính ngài: “Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trên ta; vì Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho ta, đặng giảng Tin-lành cho kẻ khiêm-nhường. Ngài đã sai ta đến đặng rịt những kẻ vỡ lòng, đặng rao cho kẻ phu-tù được tự-do, kẻ bị cầm tù được ra khỏi ngục” (Ê-sai 61:1; Lu-ca 4:16-21).
16. Những người Do-thái trong thế kỷ thứ nhất phải làm những việc gì để được tự do thật?
16 Làm thế nào người ta đạt được sự tự do đó? Giê-su nói: “Nếu các ngươi hằng ở trong đạo ta, thì thật là môn-đồ ta; các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông-tha [giải thoát] các ngươi”. Như vậy môn đồ của Giê-su đã được vui hưởng sự tự do thiêng liêng (Giăng 8:31, 32, 36). Hơn nữa, Giê-su nói với quan tổng trấn La-mã là Bôn-xơ Phi-lát: “Nầy, vì sao ta đã sanh và vì sao ta đã giáng-thế: ấy là để làm chứng cho lẽ thật. Hễ ai thuộc về lẽ thật thì nghe lấy tiếng ta” (Giăng 18:37). Những người Do-thái nào chấp nhận lẽ thật do Giê-su rao giảng và làm gương thì ăn năn tội lỗi của họ, sửa đổi đường lối sai lầm, trình diện trước Đức Giê-hô-va và làm báp têm như Giê-su đã làm (Ma-thi-ơ 3:13-17; Công-vụ các Sứ-đồ 3:19). Bằng cách này họ được vui hưởng sự tự do tương đối mà Đức Chúa Trời ban cho.
17. Tại sao Đức Giê-hô-va ban sự tự do cho các tôi tớ của Ngài?
17 Đức Giê-hô-va ban cho các tôi tớ trung thành của Ngài sự tự do, trước hết để biện minh cho quyền thống trị của Ngài, nhưng cũng để cho họ được an ủi hay gặt hái lợi ích. Ngài đã giải cứu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi vòng nô lệ tại xứ Ê-díp-tô để họ có thể làm cho Ngài được vinh hiển với tư cách một nước thầy tế lễ, là những nhân-chứng của Ngài (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:5, 6; Ê-sai 43:10-12). Tương tự thế, Đức Giê-hô-va đã đem dân Ngài ra khỏi chốn lưu đày ở Ba-by-lôn cốt để xây lại đền thờ và tái lập sự thờ phượng thật (E-xơ-ra 1:2-4). Khi những người bị lưu đày chỉ quan tâm đến tiện nghi vật chất của họ, Đức Giê-hô-va sai các nhà tiên tri A-ghê và Xa-cha-ri đến nhắc nhở họ về trách nhiệm của họ trước mặt Đức Chúa Trời. Vì được nhắc nhở về cách dùng sự tự do mà Đức Chúa Trời ban cho họ, kết quả là họ xây xong đền thờ, làm vinh hiển cho Đức Chúa Trời và cũng đem lại niềm an ủi và hạnh phúc cho dân sự của Ngài.
Chớ trật mục đích của sự tự do mà Đức Chúa Trời ban cho
18. Tại sao người ta có thể nói rằng các tôi tớ thời nay của Đức Giê-hô-va không trật mục đích của sự tự do mà Đức Chúa Trời ban cho họ?
18 Còn các tôi tớ thời nay của Đức Giê-hô-va thì sao? Với tư cách một tổ chức, họ đã không trật mục đích của sự tự do mà Đức Chúa Trời ban cho. Trong thập niên 1870, họ bắt đầu được giải thoát khỏi những sai lầm của tôn giáo giả và vui hưởng sự tự do của tín đồ đấng Christ nhiều hơn. Điều này phù hợp với Châm-ngôn 4:18. Câu này nói: “Con đường người công-bình giống như sự sáng chiếu rạng, càng sáng thêm lên cho đến giữa trưa”. Tuy thế, giống như dân Y-sơ-ra-ên thời xưa bị rơi vào vòng nô lệ của Ba-by-lôn một thời gian, vào năm 1918 dân sự của Đức Giê-hô-va cũng bị nô lệ một phần nào cho Ba-by-lôn Lớn (Khải-huyền 17:1, 2, 5). Những người theo đế quốc tôn giáo giả thế giới bấy giờ vui mừng hớn hở khi thấy “hai người làm chứng” của Đức Giê-hô-va bị chết về phương diện thiêng liêng. Nhưng vào năm 1919 Đức Chúa Trời qua sự nhân từ thương xót của Ngài đã làm sống lại các tôi tớ được xức dầu của Ngài, và giải cứu họ về phương diện thiêng liêng (Khải-huyền 11:3, 7-11). Dùng sự tự do mà Đức Chúa Trời ban cho, họ trở thành các nhân-chứng sốt sắng cho Đấng Chí Cao. Bởi vậy, vào năm 1931 thật là thích hợp biết bao khi họ vui vẻ đón nhận danh hiệu Nhân-chứng Giê-hô-va! (Ê-sai 43:10-12). Đặc biệt kể từ năm 1935, một “đám đông vô-số người” có hy vọng sống đời đời trên đất đến kết hợp với các Nhân-chứng được xức dầu. Họ cũng không trật mục đích của sự tự do mà Đức Chúa Trời ban cho (Khải-huyền 7:9-17).
19, 20. a) Một cách đáng chú ý mà dân sự của Đức Giê-hô-va khéo dùng sự tự do mà Ngài ban cho họ là gì? b) Nhân-chứng Giê-hô-va khéo dùng sự tự do mà Đức Chúa Trời ban cho họ một cách đáng kể nào khác nữa?
19 Dân sự của Đức Giê-hô-va đang khéo dùng sự tự do mà Đức Chúa Trời ban cho qua hai cách đặc biệt đáng chú ý. Một mặt, họ dùng sự tự do để theo đuổi một nếp sống ngay thẳng (I Phi-e-rơ 2:16). Họ có tiếng tốt biết bao! Thí dụ, một lần nọ có một người đàn ông vào một Phòng Nước Trời tại Zurich, Thụy Sĩ, và nói ông muốn trở thành Nhân-chứng Giê-hô-va. Được hỏi tại sao, ông trả lời có người chị em trước kia là Nhân-chứng Giê-hô-va nay đã bị khai trừ vì phạm tội vô luân. Ông nói: “Đây chính là tổ chức mà tôi muốn gia nhập—một tổ chức không dung túng hạnh kiểm xấu!” Với lý do chính đáng, cuốn “Bách khoa Tự điển Công giáo” (The Catholic Encyclopedia) nhận xét rằng Nhân-chứng Giê-hô-va được mọi người biết đến là “một trong những đoàn thể có hạnh kiểm tốt nhất trên thế giới”.
20 Các Nhân-chứng Giê-hô-va cũng dùng sự tự do mà Đức Chúa Trời ban cho để thực hiện công việc được giao phó là đi rao giảng tin mừng về Nước Trời, như Chúa Giê-su làm khi xưa (Ma-thi-ơ 4:17). Qua lời nói và qua các sách báo, họ đang thông báo Nước của Đức Giê-hô-va một cách chính thức và cũng bằng cách không theo thể thức thường lệ. Làm như thế, chính họ nhận được nhiều lợi ích vì đức tin của họ mạnh thêm và hy vọng của họ sáng sủa hơn. Hơn nữa, hoạt động này nhằm cứu rỗi chính họ và những người nghe họ (I Ti-mô-thê 4:16). Về hoạt động này, cuốn sách “Các phong trào tôn giáo mạnh mẽ” (Dynamic Religious Movements) nói: “Khó thể nào kiếm được những người thuộc một đoàn thể nào khác hoạt động hăng say cho tôn giáo của họ như các Nhân-chứng Giê-hô-va”.
21. Có bằng chứng nào cho thấy Đức Giê-hô-va đang ban phước cho công việc rao giảng của dân Ngài?
21 Quả thật Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã ban phước cho chúng ta nhiều biết bao trong việc chúng ta dùng sự tự do mà Ngài ban cho để làm theo ý định Ngài! Bản báo cáo rao giảng năm ngoái cho thấy điều này—con số cao nhất từ trước đến nay cho thấy có hơn bốn triệu người tuyên bố về Nước Trời, và hơn mười triệu người có mặt trong buổi Lễ Kỷ niệm sự chết của Giê-su! Trong một thống kê, nước Ái Nhĩ Lan đạt được số người tuyên bố cao nhất trong suốt 29 tháng liên tục; Mễ Tây Cơ đạt được số cao nhất 78 lần trong 80 tháng; và Nhật Bản đạt được số cao nhất trong 153 tháng liền!
Hãy khéo dùng sự tự do mà Đức Chúa Trời ban cho bạn
22. Chúng ta có thể tự đặt cho mình đại khái những câu hỏi chín chắn nào?
22 Nếu bạn là một Nhân-chứng đã dâng mình cho Đức Giê-hô-va, bạn có khéo dùng sự tự do mà Đức Chúa Trời đã ban cho bạn không? Mỗi người chúng ta nên tự hỏi: ‘Tôi có cẩn thận dùng sự tự do mà Đức Chúa Trời ban cho tôi sao cho tránh làm người khác vấp phạm bởi hạnh kiểm của tôi không? Tôi có tận tâm vâng theo luật pháp nhà cầm quyền mặc dù tôi đặt luật pháp của Đức Chúa Trời lên hàng đầu không? Tôi có hợp tác trọn vẹn với các trưởng lão trong hội-thánh không? Tôi có tận dụng sự tự do Đức Chúa Trời ban cho để rao giảng tin mừng không? Tôi có luôn luôn “làm công-việc Chúa cách dư-dật” không? Tôi có tham lam theo đuổi một sự nghiệp ngoài đời trong khi tôi có thể dùng sự tự do Đức Chúa Trời ban cho một cách tốt hơn bằng cách phụng sự Ngài nhiều hơn, mong ước phục vụ với nhiều trách nhiệm hơn trong hội-thánh và trong thánh chức trọn thời gian không?’ (I Cô-rinh-tô 15:58).
23. Chúng ta nên làm gì ngõ hầu không trật mục đích của sự tự do mà Đức Chúa Trời ban cho?
23 Mong sao tất cả chúng ta “nếm thử xem Đức Giê-hô-va tốt-lành dường bao!” (Thi-thiên 34:8). Chúng ta hãy tin cậy nơi Ngài, sống phù hợp với các luật pháp của Ngài và làm vinh hiển cho danh thánh của Ngài bằng cách hăng hái thông báo về Nước của Ngài. Hãy nhớ rằng “hễ ai gieo ít thì gặt ít, ai gieo nhiều thì gặt nhiều” (II Cô-rinh-tô 9:6). Bởi vậy, chúng ta hãy hết lòng phụng sự Đức Giê-hô-va và chứng tỏ chúng ta không trật mục đích của sự tự do mà Đức Chúa Trời ban cho chúng ta.
Bạn sẽ trả lời ra sao?
◻ Đức Chúa Trời có loại tự do nào?
◻ Sự tự do của con người có những giới hạn nào?
◻ Làm sao Đức Chúa Trời đã mở đường cho sự tự do thật?
◻ Chúng ta phải làm gì để tránh trật mục đích của sự tự do mà Đức Chúa Trời ban cho?
[Hình nơi trang 9]
Sự tự do của con người bị hạn chế bởi các yếu tố như định luật về trọng lực.