THƯ VIỆN TRỰC TUYẾN Tháp Canh
Tháp Canh
THƯ VIỆN TRỰC TUYẾN
Việt
  • KINH THÁNH
  • ẤN PHẨM
  • NHÓM HỌP
  • w89 1/1 trg 8-12
  • Sự sửa phạt có thể sanh ra bông trái bình an

Không có video nào cho phần được chọn.

Có lỗi trong việc tải video.

  • Sự sửa phạt có thể sanh ra bông trái bình an
  • Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—1989
  • Tiểu đề
  • Tài liệu liên quan
  • Tại sao có lập trường cương quyết này?
  • Tuyệt giao hoàn toàn ư?
  • Đối với người thân thích thì sao?
  • Quyết định của tòa án
  • Sự sửa phạt—Có nhiều lợi ích
  • Biểu lộ lòng trung thành của tín đồ Đấng Christ khi một người thân bị khai trừ
    Thánh Chức Nước Trời—2002
  • Cách cư xử với người bị khai trừ
    Hãy giữ mình trong tình yêu thương của Đức Chúa Trời
  • Tại sao khai trừ là một sắp đặt yêu thương?
    Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—2015
  • Khi một người thân yêu rời bỏ Đức Giê-hô-va
    Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va (Ấn bản học hỏi)—2021
Xem thêm
Tháp Canh Thông báo Nước của Đức Giê-hô-va—1989
w89 1/1 trg 8-12

Sự sửa phạt có thể sanh ra bông trái bình an

“Các sự sửa-phạt lúc đầu coi như một cớ buồn-bã, chớ không phải sự vui-mừng; nhưng về sau sanh ra bông-trái công-bình và bình-an cho những người đã chịu luyện-tập như vậy” (HÊ-BƠ-RƠ 12:11)

1, 2. a) Theo Hê-bơ-rơ 12:9-11 thì Đức Chúa Trời đầy yêu thương cung cấp điều gì? b) Một trường hợp của sự sửa phạt là gì, và kết quả có thể là gì?

Hãy nghĩ lại những ngày thơ ấu của bạn. Bạn có thể nhớ lại việc cha mẹ sửa phạt bạn không? Phần đông chúng ta đều nhớ. Sứ đồ Phao-lô dùng hình ảnh này làm thí dụ dẫn chứng khi ông bình luận về sự sửa phạt do Đức Chúa Trời, như chúng ta đọc nơi Hê-bơ-rơ 12:9-11.

2 Đức Chúa Trời với tư cách là cha có thể dùng nhiều hình thức sửa phạt khác nhau có thể ảnh hưởng tới đời sống thiêng liêng của chúng ta. Một trong những sự sắp đặt của Ngài là khai trừ khỏi hội-thánh đấng Christ người nào không muốn sống theo các tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời nữa hoặc từ chối làm thế. Một người bị trừng trị hoặc sửa phạt một cách mạnh mẽ như thế có thể ăn năn và quay trở lại. Sự sửa phạt như thế cũng giúp hội-thánh những người trung thành theo nghĩa là họ học biết tầm quan trọng của việc sống phù hợp với các tiêu chuẩn cao quí của Đức Chúa Trời (I Ti-mô-thê 1:20).

3. Một số người có phản ứng gì khi nghe nói đến sự khai trừ?

3 Có người có thể hỏi: «Nhưng trục xuất một người nào đó rồi từ chối không nói chuyện với y nữa không phải là tàn nhẫn hay sao?» Một quan điểm như thế đã được bàn đến trong một vụ án xảy ra gần đây liên quan đến một người đàn bà có cha mẹ trước kia là Nhân-chứng Giê-hô-va. Cha mẹ bà đã bị khai trừ. Bà thì không, nhưng lại tự ý ly khai bằng cách viết một thư tuyên bố rời bỏ hội-thánh. Do đó hội-thánh được thông báo giản dị cho biết bà không còn là Nhân-chứng Giê-hô-va nữa. Bà ấy đi nơi khác, nhưng ít năm sau trở lại và thấy các Nhân-chứng địa phương từ chối không nói chuyện với bà. Vì vậy mà bà đưa việc này ra tòa. Tòa đã xử thế nào, và điều này có ảnh hưởng đến bạn ra sao? Nhằm hiểu đúng vấn đề này, chúng ta hãy xem Kinh-thánh nói gì về đề tài liên hệ tới sự khai trừ.

Tại sao có lập trường cương quyết này?

4. Thỉnh thoảng có điều gì xảy ra cho một số người trong hội-thánh? (Ga-la-ti 6:1; Giu-đe 23).

4 Phần đông các tín đồ thật của đấng Christ trung thành ủng hộ Đức Chúa Trời và các luật pháp công bình của Ngài (I Tê-sa-lô-ni-ca 1:2-7; Hê-bơ-rơ 6:10). Tuy nhiên, thỉnh thoảng có một người rời bỏ đường lối của lẽ thật. Chẳng hạn, dù được các trưởng lão tín đồ đấng Christ giúp đỡ, người đó có thể vi phạm luật pháp Đức Chúa Trời mà không chịu ăn năn. Hoặc y có thể chối bỏ đức tin bằng cách dạy giáo lý sai lầm hay tự ly khai khỏi hội-thánh. Vậy thì phải làm gì đây? Những việc như thế đã xảy ra ngay trong thời các sứ đồ còn sống; vậy chúng ta hãy xem họ viết gì về vấn đề này.

5, 6. a) Chúng ta có lời khuyên khôn ngoan nào để đối xử với những kẻ phạm tội nặng mà không ăn năn? (Ma-thi-ơ 18:17). b) Chúng ta cần xem xét các câu hỏi nào?

5 Khi một người ở thành Cô-rinh-tô phạm tội vô luân mà không ăn năn, Phao-lô nói với hội-thánh: “Anh em đừng làm bạn với kẻ nào tự xưng là anh em, mà là gian-dâm, hoặc tham-lam, hoặc thờ hình-tượng, hoặc chưởi-rủa, hoặc say-sưa, hoặc chắt-bóp [tống tiền, NW], cũng không nên ăn chung với người thể ấy” (I Cô-rinh-tô 5:11-13). Phao-lô cũng viết như thế về những kẻ bội đạo, chẳng hạn như Hy-mê-nê: “Sau khi mình đã khuyên-bảo kẻ theo tà-giáo [lập ra bè đảng] một hai lần rồi, thì hãy lánh họ, vì biết rằng người như thế đã bội-nghịch mà cứ phạm tội, thì tự đoán-phạt lấy mình” (Tít 3:10, 11; I Ti-mô-thê 1:19, 20). Việc xa lánh như thế cũng thích hợp đối với những kẻ từ bỏ hội-thánh: “Chúng nó đã từ giữa chúng ta mà ra, nhưng vốn chẳng phải thuộc về chúng ta; vì nếu chúng nó thuộc về chúng ta, thì đã ở cùng chúng ta; song điều đó đã xảy đến, hầu cho tỏ ra rằng mọi kẻ ấy chẳng thuộc về chúng ta vậy” (I Giăng 2:18, 19).

6 Hy vọng rằng kẻ dường ấy sẽ ăn năn và có thể được nhận vào trở lại (Công-vụ các Sứ-đồ 3:19). Nhưng trước khi điều đó xảy ra, tín đồ đấng Christ có thể giao thiệp với y một cách hạn chế không, hay cần phải tránh triệt để? Nếu phải tránh, tại sao?

Tuyệt giao hoàn toàn ư?

7. Chúng ta đối xử khác nhau ra sao với hai hạng người có tội?

7 Tín đồ đấng Christ không tự cô lập hóa xa lánh người đồng loại. Chúng ta giao thiệp bình thường với người lân cận, bạn đồng nghiệp, bạn học ở trường và những người khác, cùng rao giảng làm chứng cho họ ngay dù một số người trong họ là những kẻ «gian-dâm, tham-lam, gian lận, hoặc thờ hình-tượng». Phao-lô viết là chúng ta không thể tránh họ hẳn, «vì nếu vậy thì chúng ta phải lìa khỏi thế-gian». Tuy nhiên, ông chỉ dẫn cho biết là nếu một người “anh em” mà ăn ở như vậy thì là chuyện khác: “Anh em đừng làm bạn với kẻ nào tự xưng là anh em, mà [trở lại những đường lối ấy], cũng không nên ăn chung với người thể ấy” (I Cô-rinh-tô 5:9-11; Mác 2:13-17).

8. Sứ đồ Giăng cho lời khuyên nào về việc xa lánh?

8 Các lá thư của sứ đồ Giăng cũng cho chúng ta những lời khuyên tương tự nhấn mạnh cho thấy tín đồ đấng Christ phải triệt để xa lánh những kẻ ấy ra sao: “Hễ ai đi dông-dài, chẳng bền lòng theo đạo đấng Christ, thì người ấy không có Đức Chúa Trời... Nếu ai đến cùng các ngươi mà không đem theo đạo ấy theo, thì chớ rước họ vào nhà, và đừng chào-hỏi họ. Vì người nào chào-hỏi [chữ Hy-lạp là khai’ro] họ, tức là dự vào công-việc ác của họ”a (II Giăng 9-11).

9, 10. a) Trong dân Y-sơ-ra-ên những kẻ vi phạm luật pháp mà không ăn năn phải chịu điều gì, và tại sao? b) Chúng ta nên cảm thấy thế nào về sự sắp đặt thời nay để đối xử với những kẻ bị khai trừ vì phạm tội mà không ăn năn? (II Phi-e-rơ 2:20-22).

9 Tại sao một lập trường cương quyết như thế vẫn còn thích hợp vào thời nay? Hãy suy nghĩ đến việc Luật pháp của Đức Chúa Trời ban cho dân Y-sơ-ra-ên bảo phải thi hành cách nghiêm nhặt biện pháp xử tử. Trong nhiều vấn đề nghiêm trọng, những kẻ cố ý vi phạm phải bị xử tử (Lê-vi Ký 20:10; Dân-số Ký 15:30, 31). Khi việc này xảy ra thì những người khác, ngay những người thân thích, không thể nói chuyện với kẻ phạm luật đã chết rồi (Lê-vi Ký 19:1-4; Phục-truyền Luật-lệ Ký 13:1-5; 17:1-7). Dù những người Y-sơ-ra-ên trung thành thời xưa là những người bình thường có tình cảm giống như chúng ta, họ biết rằng Đức Chúa Trời là công bình và Luật pháp Ngài bảo vệ cho sự tinh sạch đạo đức và thiêng liêng của họ. Vậy họ có thể chấp nhận sự sắp đặt của Ngài về việc xử tử những kẻ phạm tội là tốt lành và đúng (Gióp 34:10-12).

10 Chúng ta có thể tin chắc cũng như thế là sự sắp đặt của Đức Chúa Trời bảo các tín đồ đấng Christ từ chối việc giao thiệp với kẻ nào đã bị khai trừ vì phạm tội mà không ăn năn là một sự che chở đầy khôn ngoan cho chúng ta. “Hãy làm cho mình sạch men cũ đi, hầu cho anh em trở nên bột nhồi mới không men, như anh em là bánh không men vậy” (I Cô-rinh-tô 5:7). Cũng nhờ xa lánh những kẻ tự ly khai mà tín đồ đấng Christ được bảo vệ khỏi các quan điểm của chúng nó nhằm chỉ trích, bày tỏ sự vong ơn và ngay cả có tính cách bội đạo nữa (Hê-bơ-rơ 12:15, 16).

Đối với người thân thích thì sao?

11, 12. a) Trong dân Y-sơ-ra-ên xưa khi một người phạm tội bị xử tử, điều đó có ảnh hưởng gì trên những người thân thích? b) Hãy dùng thí dụ dẫn chứng các lợi ích của sự vâng lời.

11 Chắc chắn Đức Chúa Trời nhận biết rằng thi hành các luật pháp công bình của Ngài về việc xử tử những kẻ vi phạm nhiều khi có liên can và ảnh hưởng đến những người thân thích. Như đã nói ở trên, khi một người Y-sơ-ra-ên phạm tội bị xử tử, gia đình y không còn có thể giao thiệp với y được nữa. Thật thế, nếu một đứa con say rượu và ham ăn, cha mẹ phải dẫn nó đến trước mặt các quan xét, và nếu nó không chịu ăn năn, cha mẹ phải dự vào việc xử tử nó đúng lý, để «cất sự ác khỏi giữa Y-sơ-ra-ên» (Phục-truyền Luật-lệ Ký 21:18-21). Bạn có thể hiểu là đối với cha mẹ không phải dễ gì làm điều đó. Cũng hãy tưởng tượng các anh chị em hoặc ông bà của kẻ làm ác cảm thấy gì. Tuy nhiên, việc họ đặt sự trung thành đối với Đức Chúa Trời công bình lên trên tình cảm gia đình có thể cứu sống họ.

12 Hãy nhớ lại trường hợp của Cô-rê là một người cầm đầu cuộc phản nghịch chống lại sự lãnh đạo của Đức Chúa Trời qua trung gian Môi-se. Với sự công bình hoàn toàn của Ngài, Đức Giê-hô-va đã thấy cần phải xử tử Cô-rê. Nhưng Ngài đã khuyên tất cả những người trung thành: “Hãy dan ra khỏi trại của các người hung-ác nầy, và chớ đụng đến vật chi thuộc về họ, e các ngươi sẽ chết vì những tội của họ chăng”. Những người thân thích nào không nghe lời cảnh cáo của Đức Chúa Trời đã chết với những kẻ phản nghịch. Nhưng một số người thân của Cô-rê đã khôn ngoan chọn việc trung thành với Đức Giê-hô-va, điều đó đã cứu sống họ và giúp họ nhận được các ân phước sau này (Dân-số Ký 16:16-23; 26:9-11; II Sử-ký 20:19).

13. Nếu một người thân thích bị khai trừ hoặc tự ly khai, các tín đồ đấng Christ trung thành trong gia đình sẽ phản ứng thế nào?

13 Ai bị truất khỏi hội-thánh tín đồ đấng Christ không phải bị chết liền, do đó các giây liên hệ gia đình vẫn tiếp tục. Vậy một người bị khai trừ hoặc tự ly khai có thể vẫn còn sống chung nhà với vợ là tín đồ đấng Christ và các con trung thành. Việc kính trọng các sự phán xét của Đức Chúa Trời và hành động của hội-thánh sẽ thúc đẩy vợ con ông chấp nhận rằng đường lối của ông nay đã khiến cho không còn sự liên lạc thiêng liêng nữa. Tuy nhiên, vì sự kiện ông bị khai trừ không chấm dứt sự ràng buộc về máu mủ hoặc liên hệ hôn nhân, tình cảm và các sự đối xử trong gia đình có thể tiếp diễn bình thường.

14. Lời khuyên nào của Đức Chúa Trời nên ảnh hưởng đến sự giao thiệp của chúng ta với một người thân thích bị khai trừ hoặc tự ly khai không cùng sống chung dưới một mái nhà?

14 Tình thế đổi khác nếu kẻ bị khai trừ hoặc tự ly khai là một người thân thích và không sống chung nhà cha mẹ anh em. Có thể tránh được hầu hết mọi sự giao thiệp với y ta. Ngay dù có vài chuyện gia đình đòi hỏi có sự gặp mặt để giải quyết, chắc chắn có thể giới hạn sự giao thiệp càng tới mức tối thiểu càng tốt, cho phù hợp với nguyên tắc này của Đức Chúa Trời: “Anh em đừng làm bạn với [bất cứ] kẻ nào tự xưng là anh em, mà là gian-dâm, hoặc tham-lam [hay phạm một tội nặng nào khác]... cũng không nên ăn chung với người thể ấy” (I Cô-rinh-tô 5:11).

15. Làm thế nào những người thân thích có thể kiểm soát ảnh hưởng của tình cảm trong các hoàn cảnh ấy? (Thi-thiên 15:1-5; Mác 10:29, 30).

15 Điều dễ hiểu là việc này có thể khó khăn vì cớ tình cảm và sự ràng buộc gia đình, chẳng hạn như tình yêu thương giữa ông bà đối với cháu chít. Tuy vậy, đây là một thử thách về sự trung thành đối với Đức Chúa Trời, như lời người chị có ghi nơi trang 8. Vậy thì bất cứ ai có cảm nghĩ buồn bã và đau đớn do một người thân bị khai trừ đem lại có thể thấy được an ủi và khuyến khích nhờ có gương mẫu mà một số người thân của Cô-rê đã đặt ra (Thi-thiên 84:10-12).b

Quyết định của tòa án

16-18. Vụ kiện được đề cập tới khi nãy đã được tuyên án thế nào, và tòa án nói thêm ý kiến nào nữa?

16 Có lẽ bạn muốn biết tòa đã tuyên án gì trong vụ kiện liên quan đến một người đàn bà đã tức tối vì những người mà bà quen biết trước kia nay không chịu nói chuyện với bà sau khi bà chọn việc từ bỏ đức tin bằng cách tự ly khai khỏi hội-thánh.

17 Trước khi vụ kiện được đưa ra xét xử, một tòa án địa hạt liên bang phân xử sơ lược cho bà trái lý. Lời tuyên án này dựa trên ý niệm là tòa án không xử các vụ kiện liên hệ tới biện pháp kỷ luật của các giáo hội. Rồi bà chống án. Tòa Phá án liên bang đã đồng thanh tuyên ánc dựa trên các tiêu chuẩn khoáng đại của những quyền lợi nằm trong Điều luật Tu chính thứ nhất (của Hiến pháp Hoa-kỳ): “Bởi lẽ sự thực hành việc xa lánh một người nào là một phần trong tín điều của Nhân-chứng Giê-hô-va, chúng tôi nhận thấy là «thi hành sự tự do» trong Hiến pháp Hoa-kỳ... không cho phép [bà này] thắng án. Bị cáo có đặc quyền thi hành sự tự do được Hiến pháp bảo hộ bằng cách xa lánh [bà này]. Chiếu theo đó, chúng tôi đồng ý xác định” bản tuyên án sơ khởi của tòa án địa hạt”.

18 Tòa án tiếp tục đưa ra ý kiến: “Việc xa lánh một người nào là một sự thực hành của Nhân-chứng Giê-hô-va dựa trên việc thông giải văn kiện kinh điển, và chúng tôi không có quyền thông giải trở lại văn kiện đó... Bị cáo được tự do thực hành tín ngưỡng của mình... Thường thì tòa án không xem xét tỷ mỷ mối liên lạc giữa những thành viên (hoặc cựu thành viên) của một giáo hội. Các giáo hội có rộng quyền áp dụng biện pháp kỷ luật cho các thành viên hoặc cựu thành viên. Chúng tôi đồng ý với quan tòa Jackson [cựu Thẩm phán Tối cao Pháp viện Hoa-kỳ] về quan điểm cho rằng «các hoạt động tôn giáo mà chỉ liên quan tới những thành viên của tín ngưỡng thì được hoàn toàn tự do và phải là như thế—gần như là tuyệt đối tự do nếu có thể được»... Những thành viên của Giáo hội mà [bà này] đã tự ý ly khai quyết định rằng họ không muốn giao thiệp với bà nữa. Chúng tôi chủ trương rằng họ được tự do lựa chọn quyết định này”.

19, 20. Tại sao một người bị hội-thánh đoạn giao không có quyền ra tòa xin được bồi thường thiệt hại tài chánh?

19 Tòa Phá án công nhận rằng, dù cho bà này cảm thấy buồn vì những người mà bà quen biết khi xưa đã quyết định không nói chuyện với bà, “nếu cho phép bà được bồi thường liên quan đến những sự thiệt hại không về vật chất hay về tình cảm có nghĩa là đi ngược lại Hiến pháp và hạn chế quyền tự do tín ngưỡng của Nhân-chứng Giê-hô-va... Hiếp pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng: điều này đòi hỏi xã hội phải chấp nhận thứ thiệt hại mà [bà này] phải chịu vì đó là giá cả phải chăng để bảo vệ quyền bất đồng tín ngưỡng mà tất cả mọi công dân được hưởng”. Hiểu theo một nghĩa nào đó, tầm quan trọng của quyết định này đã được bổ túc thêm nhiều hơn nữa kể từ khi được đưa ra phân xử. Thế là sao? Sau đó bà kia đệ đơn lên tòa án cao nhất trong nước để tòa án này phân xử vụ kiện và may ra đảo lại bản án nghịch ý bà. Nhưng vào tháng 11 năm 1987, Tối cao Pháp viện Hoa-kỳ từ chối làm thế.

20 Vậy thì vụ kiện quan trọng này ấn định rằng một người bị khai trừ hoặc tự ly khai không thể cậy vào một tòa án để được Nhân-chứng Giê-hô-va bồi thường thiệt hại vì đã bị xa lánh.d Bởi lẽ hội-thánh tuân theo các sự dẫn dắt hoàn toàn mà tất cả chúng ta có thể đọc thấy trong Lời Đức Chúa Trời và áp dụng, người nào đó phải gánh lấy cảm giác bị thiệt hại do các hành động của chính mình gây ra.

Sự sửa phạt—Có nhiều lợi ích

21. Tại sao cần phải có quan điểm thăng bằng về sự khai trừ?

21 Một số người ngoại cuộc, khi nghe nói tới sự khai trừ thường có khuynh hướng tỏ ra thương hại một người phạm tội giờ đây không thể nói chuyện được nữa với những người trong hội-thánh. Nhưng phải chăng sự thương hại ấy đặt sai chỗ? Hãy xem xét những lợi ích mà chính kẻ phạm tội và cả những người khác có thể nhận được.

22, 23. Hãy dùng thí dụ giải thích tầm quan trọng và giá trị của việc vâng lời Đức Chúa Trời liên hệ tới quan điểm của chúng ta đối với những kẻ bị khai trừ.

22 Chẳng hạn, nơi trang 8, chúng ta thấy chị Lynette bình luận về việc chị quyết định «đoạn giao hẳn» với em gái của chị là Margaret đã bị khai trừ. Chị và những người thân của chị là tín đồ đấng Christ «nghĩ rằng đường lối của Đức Giê-hô-va là đường lối tốt nhất». Quả thật đúng vậy!

23 Sau này em gái chị nói với chị: «Nếu mà chị đã coi nhẹ sự khai trừ, em nghĩ em có lẽ không gấp rút sửa chữa để sớm được nhận vào lại như em đã làm. Bị đoạn giao hẳn với những người thân yêu và không được giao thiệp mật thiết với hội-thánh đã tạo ra trong thâm tâm em ý muốn ăn năn mãnh liệt. Em đã hiểu đường lối em sai lầm biết bao và xây lưng lại khỏi Đức Giê-hô-va là một lỗi nặng làm sao».

24. Phản ứng của một chị trước sự khai trừ đã ảnh hưởng thế nào với chính chị và những người khác?

24 Trong một trường hợp khác, cha mẹ của chị Laurie bị khai trừ. Tuy nhiên chị nói: «Không những tôi đã không ngừng mà lại còn giao thiệp với họ nhiều hơn nữa. Dần dần theo thời gian, càng ngày tôi càng ít tham gia công việc rao giảng. Tôi đã đi đến chỗ không còn đi dự nhóm họp nữa». Rồi chị đọc các bài đăng trong Tháp Canh (Anh-ngữ) các số ra ngày 1-9 và 15-9-1981 [Việt-ngữ: 1-9, 1-10 và 1-11-1982], nhấn mạnh lời khuyên nơi I Cô-rinh-tô 5:11-13 và II Giăng 9-11. Chị viết: “Tôi chợt hiểu rõ như thể có một bóng đèn được bật lên trong đầu tôi. Tôi biết tôi phải làm vài sự sửa đổi. Bây giờ tôi hiểu rõ hơn ý nghĩa của đoạn Ma-thi-ơ 10:34-36. Gia đình tôi rất khó khăn chấp nhận quyết định của tôi, vì đứa con năm tuổi của tôi là con trai duy nhất, và cha mẹ tôi yêu cháu tha thiết”. Hy vọng rằng mất đi sự giao thiệp ấy sẽ làm cha mẹ của chị này động lòng, giống như chị Margaret vậy. Dù sao đi nữa, sự sửa phạt liên hệ cũng đã giúp chị Laurie: «Tôi đi rao giảng trở lại. Hôn nhân của tôi và gia đình tôi trở nên mạnh hơn nhờ có sự thay đổi của tôi và chính tôi cũng mạnh thêm».

25. Một người được nhận vào lại đã nói gì về sự sửa phạt của Đức Chúa Trời?

25 Chúng ta cũng hãy xem xét cảm nghĩ của một người đã từng bị khai trừ và sau đó được nhận vào lại. Chị Sandi viết: «Tôi muốn cám ơn các anh về các bài báo [nêu ra ở trên] rất bổ ích nói về sự quở trách và sự khai trừ. Tôi sung sướng về việc Đức Giê-hô-va yêu mến dân Ngài đến độ giữ cho tổ chức của Ngài được tinh sạch. Điều mà đối với người ngoại cuộc dường như có vẻ tàn nhẫn lại là điều vừa cần thiết vừa đầy yêu thương thật sự. Tôi tạ ơn Cha trên trời của chúng ta vì Ngài là Đức Chúa Trời đầy yêu thương và hay tha thứ».

26. Chấp nhận sự sửa phạt có thể sanh ra bông trái công bình nào? (Thi-thiên 94:10, 12).

26 Như thế Đức Chúa Trời của chúng ta một khi đòi hỏi kẻ phạm tội không ăn năn phải bị trục xuất khỏi hội-thánh cũng cho thấy một cách đầy yêu thương là người phạm tội nếu ăn năn và quay trở lại thì có thể được nhận lại vào trong hội-thánh. (Cũng thế, một người tự ly khai có thể xin được hội-thánh nhận cho trở lại). Sau đó thì người này có thể được các tín đồ đấng Christ khác an ủi, họ sẽ xác nhận lại sự yêu thương của họ đối với người (II Cô-rinh-tô 2:5-11; 7:8-13). Quả đúng như sứ đồ Phao-lô viết, “các sự sửa-phạt lúc đầu coi như một cớ buồn-bã, chớ không phải sự vui-mừng; nhưng về sau sanh ra bông-trái công-bình và bình-an cho những người đã chịu luyện-tập như vậy” (Hê-bơ-rơ 12:11).

[Chú thích]

a Ở đây Giăng dùng chữ khai’ro có nghĩa lời chào hỏi như là “chúc bình-an” hoặc “mừng các ngươi” (Công-vụ các Sứ-đồ 15:23; Ma-thi-ơ 28:9). Ông không dùng chữ a.spa’zo.mai (như ở câu 13), có nghĩa là “choàng tay ôm lấy, làm thế để chào mừng” và có thể ngụ ý một lời chào thăm rất nồng nhiệt, ngay cả việc ôm hôn nữa (Lu-ca 10:4; 11:43; Công-vụ các Sứ-đồ 20:1, 37; I Tê-sa-lô-ni-ca 5:26). Thế thì lời chỉ dẫn ở II Giăng 11 rất có thể có nghĩa là không được ngay cả nói tiếng “chào” với những người ấy. (Xem Tháp Canh [Anh-ngữ], số ra ngày 15-7-1985, trang 31).

b Xem Tháp Canh, số ra ngày 1-11-1982, trang 6-11, bàn luận về việc một người thân thích trong gia đình bị khai trừ.

c 819 F.2d 875 (9th Cir. 1987).

d Dù một số người đã kiện ra tòa, không tòa án nào phân xử cho Nhân-chứng Giê-hô-va trái lý vì cớ họ căn cứ vào Kinh-thánh thực hành sự xa lánh một người nào.

Các điểm nên nhớ

◻ Sự khai trừ có thể là một hình thức sửa trị qua những cách nào?

◻ Tại sao tín đồ đấng Christ cư xử với kẻ bị khai trừ khác với cách cư xử đối với những kẻ phạm tội của thế gian?

◻ Nên ghi nhớ chỉ thị gì của Kinh-thánh ở trong trí, ngay dù một người thân thích bị khai trừ?

◻ Một tòa phá án quyết định thế nào về vụ kiện của một người đã bị khai trừ?

◻ Lời phát biểu của một số người về sự khai trừ có thể dạy chúng ta điều gì?

[Câu nổi bật nơi trang 8]

“Sự kiện chúng tôi đoạn giao hằn với [em gái của tôi đã bị khai trừ là] Margaret đã thử thách lòng trung thành của chúng tôi đối với sự sắp đặt của Đức Giê-hô-va. Việc này đã giúp gia đình chúng tôi có cơ hội chứng tỏ chúng tôi thật sự tin rằng đường lối của Đức Giê-hô-va là đường lối tốt nhất”.—Lynette.

[Khung nơi trang 12]

Việc trục xuất—Có hiệu quả gì?

Sử gia người Anh tên là Edward Gibbon viết về tính chất và hiệu quả của sự khai trừ vào thời kỳ sau các sứ đồ ít lâu:

“Mỗi xã hội đều có quyền bất khả kháng cho phép loại trừ ra khỏi cộng đồng của họ những thành viên nào mà chối bỏ hoặc vi phạm nội qui được thiết lập dưới sự thỏa thuận chung... Việc trục xuất có tính cách thể chất [trần thế] lẫn thiêng liêng. Người tín đồ đấng Christ nào bị trục xuất thì không còn được phép tham gia vào sự cung hiến dành cho những người tin đạo nữa. Cả hai mối ràng buộc về tôn giáo và tình bè bạn giữa cá nhân đều bị hủy bỏ”.

    Ấn phẩm Tiếng Việt (1984-2026)
    Đăng xuất
    Đăng nhập
    • Việt
    • Chia sẻ
    • Tùy chỉnh
    • Copyright © 2026 Watch Tower Bible and Tract Society of Pennsylvania
    • Điều khoản sử dụng
    • Quyền riêng tư
    • Cài đặt quyền riêng tư
    • JW.ORG
    • Đăng nhập
    Chia sẻ