THƯ VIỆN TRỰC TUYẾN Tháp Canh
Tháp Canh
THƯ VIỆN TRỰC TUYẾN
Việt
  • KINH THÁNH
  • ẤN PHẨM
  • NHÓM HỌP
  • nwt Nê-hê-mi 1:1-13:31
  • Nê-hê-mi

Không có video nào cho phần được chọn.

Có lỗi trong việc tải video.

  • Nê-hê-mi
  • Kinh Thánh—Bản dịch Thế Giới Mới
Kinh Thánh—Bản dịch Thế Giới Mới
Nê-hê-mi

NÊ-HÊ-MI

1 Đây là lời của Nê-hê-mi*+ con trai Ha-ca-lia: Vào tháng Kít-lêu,* năm thứ hai mươi, tôi đang ở thành lũy*+ Su-san.* 2 Lúc đó Ha-na-ni,+ một trong các anh em của tôi, cùng với những người khác từ Giu-đa đã đến. Tôi hỏi thăm họ về những người Do Thái còn lại đã thoát khỏi cảnh lưu đày,+ và cũng hỏi về Giê-ru-sa-lem nữa. 3 Họ cho biết: “Những người còn lại trong tỉnh, tức những người sống sót sau kỳ lưu đày, đang chịu cảnh bi đát và nhục nhã lắm.+ Các tường thành của Giê-ru-sa-lem đều đổ nát,+ còn các cổng thành thì bị thiêu đốt”.+

4 Vừa nghe những lời ấy, tôi ngồi than khóc và buồn rầu trong nhiều ngày; tôi cứ kiêng ăn+ và cầu nguyện trước mặt Đức Chúa Trời của các tầng trời. 5 Tôi khẩn cầu: “Ôi Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các tầng trời, Đức Chúa Trời vĩ đại và đáng kính sợ, đấng luôn giữ giao ước và thể hiện tình yêu thương thành tín với những ai yêu thương ngài và vâng giữ điều răn ngài,+ 6 xin mắt ngài để ý đến và tai ngài lắng nghe lời cầu nguyện hôm nay của con, là tôi tớ ngài, người đang ngày đêm cầu nguyện với ngài+ về các tôi tớ ngài là những người Y-sơ-ra-ên, thú nhận mọi tội lỗi mà dân Y-sơ-ra-ên đã phạm cùng ngài. Chúng con đã phạm tội, cả con và nhà cha con.+ 7 Quả thật, chúng con đã làm điều bại hoại nghịch lại ngài+ khi không giữ các điều răn, điều lệ và phán quyết mà ngài đã ban cho tôi tớ ngài là Môi-se.+

8 Xin hãy nhớ lại lời ngài đã truyền* cho tôi tớ ngài là Môi-se rằng: ‘Nếu các ngươi hành động bất trung, ta sẽ khiến các ngươi tản mác giữa các dân.+ 9 Còn nếu các ngươi trở lại với ta, vâng giữ và tuân theo các điều răn ta thì dù dân bị phân tán của các ngươi ở tận cuối phương trời chăng nữa, ta cũng sẽ nhóm chúng lại+ và dẫn chúng đến nơi mà ta đã chọn để đặt danh ta’.+ 10 Họ là tôi tớ ngài và dân ngài; ngài đã chuộc họ bởi quyền năng vĩ đại và bàn tay mạnh mẽ của ngài.+ 11 Ôi Đức Giê-hô-va, xin ngài lắng tai nghe lời cầu nguyện của tôi tớ ngài và lời cầu nguyện của những tôi tớ vui thích kính sợ danh ngài, xin ngài cho tôi tớ ngài hôm nay được thành công, và nguyện vua tỏ lòng trắc ẩn với con”.+

Bấy giờ, tôi là quan dâng rượu của vua.+

2 Vào tháng Ni-san,* nhằm năm thứ hai mươi+ triều đại vua Ạt-ta-xét-xe,+ rượu được đặt trước vua, và như thường lệ tôi lấy rượu dâng lên vua.+ Chưa bao giờ tôi u sầu trước mặt vua. 2 Thế nên vua hỏi tôi: “Sao trông khanh u sầu đến vậy, trong khi khanh chẳng bệnh chi cả? Chắc trong lòng khanh có nỗi u sầu”. Nghe vậy tôi rất sợ.

3 Tôi bèn thưa với vua: “Đức vua vạn tuế! Hạ thần không u sầu sao được khi thành, là nơi chôn cất tổ phụ hạ thần, bị đổ nát, còn các cổng thành thì bị lửa thiêu rụi?”.+ 4 Vua hỏi tôi: “Khanh mong muốn điều chi?”. Tôi liền cầu nguyện với Đức Chúa Trời của các tầng trời.+ 5 Rồi tôi đáp lời vua: “Nếu đẹp ý bệ hạ và nếu kẻ tôi tớ này được ơn trước mặt ngài, xin hãy sai hạ thần về Giu-đa, về thành chôn cất tổ phụ mình, để xây lại thành ấy”.+ 6 Lúc đó có hoàng hậu ngồi kế bên vua, và vua hỏi tôi: “Chuyến đi sẽ mất bao lâu, và khi nào khanh trở lại?”. Thế là vua bằng lòng phái tôi đi,+ và tôi cho vua biết thời hạn.+

7 Rồi tôi thưa với vua: “Nếu đẹp ý bệ hạ, xin ban cho hạ thần những bức thư gửi cho các quan tổng đốc của vùng Bên Kia Sông,*+ để họ cho phép hạ thần đi qua lãnh thổ họ an toàn đến khi về tới Giu-đa, 8 cũng xin ngài ban một bức thư gửi cho A-sáp, người canh giữ Công Viên Hoàng Gia,* hầu ông ấy cung cấp gỗ để hạ thần làm xà cho cổng của Thành Trì+ Đền Thờ, cho tường thành+ và nhà mà hạ thần sẽ đi đến”. Thế là vua ban cho tôi những bức thư ấy,+ vì tay tốt lành của Đức Chúa Trời ở trên tôi.+

9 Rồi tôi đến gặp các quan tổng đốc của vùng Bên Kia Sông và trao thư của vua cho họ. Vua cũng phái các tướng quân đội và kỵ binh đi cùng tôi. 10 Khi San-ba-lát+ người Hô-rôn và Tô-bia+ quan chức* người Am-môn+ nghe tin ấy thì rất bực tức vì có người đến làm điều lành cho dân Y-sơ-ra-ên.

11 Cuối cùng tôi cũng về đến Giê-ru-sa-lem và ở lại đó ba ngày. 12 Tôi và vài người đi cùng trỗi dậy lúc ban đêm. Tôi không cho ai biết về những điều Đức Chúa Trời đã đặt vào lòng tôi để làm cho Giê-ru-sa-lem. Chẳng có con vật nào ở cùng tôi, ngoại trừ con vật tôi đang cưỡi. 13 Ban đêm, tôi đi ra qua Cổng Thung Lũng,+ đi ngang qua phía trước Giếng Con Rắn Lớn rồi đến Cổng Đống Tro;+ tôi kiểm tra các tường của Giê-ru-sa-lem đã bị đổ nát cùng những cánh cổng bị lửa thiêu rụi.+ 14 Tôi đi tiếp đến Cổng Suối+ và Hồ Vua, nhưng không có đủ chỗ để con vật tôi đang cưỡi đi qua. 15 Dù vậy, tôi cứ đi lên dọc theo thung lũng+ vào ban đêm và tiếp tục kiểm tra tường. Sau đó, tôi quay lại và trở về qua Cổng Thung Lũng.

16 Các quan cấp dưới+ không biết tôi đi đâu và làm gì vì tôi chưa nói gì với người Do Thái, các thầy tế lễ, bậc quyền quý, quan cấp dưới và những người còn lại tham gia xây cất. 17 Cuối cùng, tôi nói với họ rằng: “Anh em thấy chúng ta đang ở trong cảnh bi đát thế nào, thành Giê-ru-sa-lem bị đổ nát và các cổng thành bị thiêu đốt ra sao. Nào, chúng ta hãy xây lại các tường thành Giê-ru-sa-lem, để chấm dứt nỗi nhục nhã này”. 18 Sau đó, tôi cho họ biết tay tốt lành của Đức Chúa Trời ở trên tôi ra sao+ và vua đã nói gì với tôi.+ Bấy giờ, họ nói: “Chúng ta hãy trỗi dậy và xây cất”. Thế là họ làm mình mạnh mẽ để thực hiện công việc tốt lành ấy.+

19 Khi San-ba-lát người Hô-rôn, Tô-bia+ quan chức người Am-môn+ và Ghê-sem người Ả Rập+ nghe tin ấy thì bắt đầu chế nhạo,+ tỏ ra khinh bỉ chúng tôi và nói: “Các ngươi làm gì vậy? Các ngươi đang nổi loạn chống lại đức vua sao?”.+ 20 Nhưng tôi đáp: “Đức Chúa Trời của các tầng trời là đấng sẽ giúp chúng tôi thành công,+ và chúng tôi, là các tôi tớ ngài, sẽ trỗi dậy và xây cất; nhưng các ông không có phần cũng chẳng có quyền hay kỷ niệm* gì ở Giê-ru-sa-lem”.+

3 Thầy tế lễ thượng phẩm Ê-li-a-síp+ cùng anh em ông, là các thầy tế lễ, trỗi dậy xây Cổng Cừu.+ Họ biệt riêng cổng ấy ra thánh*+ và lắp các cánh cổng; họ biệt riêng nó ra thánh cho đến Tháp Mê-a,+ đến tận Tháp Ha-na-nê-ên.+ 2 Kế bên họ có những người Giê-ri-cô+ đang xây cất; kế bên có Xa-cu-rơ con trai Im-ri đang xây cất.

3 Các con trai của Hát-sê-na xây Cổng Cá;+ họ đóng khung cổng bằng gỗ+ rồi lắp các cánh cổng, chốt và thanh cài. 4 Kế bên họ có Mê-rê-mốt,+ con trai U-ri-gia, cháu Ha-cốt, làm việc sửa chữa; kế bên có Mê-su-lam,+ con trai Bê-rê-kia, cháu Mê-sê-xa-bê-ên, làm việc sửa chữa; và kế bên có Xa-đốc con trai Ba-a-na làm việc sửa chữa. 5 Kế bên có người Thê-cô-a+ làm việc sửa chữa, nhưng những bậc cao trọng của họ không chịu hạ mình xuống để tham gia công việc của chủ mình.

6 Giô-gia-đa con trai Pha-sê-a và Mê-su-lam con trai Bê-sô-đia sửa chữa Cổng Thành Cổ;+ họ đóng khung cổng bằng gỗ rồi lắp các cánh cổng, chốt và thanh cài. 7 Kế bên họ có Mê-la-tia người Ga-ba-ôn+ và Gia-đôn người Mê-rô-nốt làm việc sửa chữa, là những người Ga-ba-ôn và Mích-ba+ ở dưới quyền* quan tổng đốc của vùng Bên Kia Sông.*+ 8 Kế bên có U-xi-ên con trai Hạt-ha-gia, một trong những thợ kim hoàn, làm việc sửa chữa; kế bên có Ha-na-nia, một trong những người trộn thuốc mỡ,* làm việc sửa chữa. Họ lát đá Giê-ru-sa-lem cho đến tận Tường Rộng.+ 9 Kế bên có Rê-pha-gia con trai Hu-rơ, quan của nửa vùng Giê-ru-sa-lem, làm việc sửa chữa. 10 Kế bên có Giê-đa-gia con trai Ha-ru-máp làm việc sửa chữa ở phía trước nhà mình, và kế bên có Hát-túc con trai Ha-sáp-nia làm việc sửa chữa.

11 Manh-ki-gia con trai Ha-rim+ cùng Ha-súp con trai Pha-hát-mô-áp+ sửa chữa một phần khác và Tháp Lò.+ 12 Kế bên họ có Sa-lum con trai Ha-lô-hết, quan của nửa vùng Giê-ru-sa-lem, làm việc sửa chữa cùng với các con gái của ông.

13 Ha-nun và cư dân Xa-nô-a+ sửa chữa Cổng Thung Lũng;+ họ xây cổng rồi lắp các cánh cổng, chốt và thanh cài; họ cũng sửa chữa 1.000 cu-bít* tường cho đến tận Cổng Đống Tro.+ 14 Manh-ki-gia con trai Rê-cáp, quan của vùng Bết-hác-kê-rem,+ sửa chữa Cổng Đống Tro; ông xây cổng rồi lắp các cánh cổng, chốt và thanh cài.

15 Sa-lun con trai Côn-hô-xê, quan của vùng Mích-ba,+ sửa chữa Cổng Suối;+ ông xây cổng và mái rồi lắp các cánh cổng, chốt và thanh cài; ông cũng sửa chữa tường của Hồ+ Kênh, gần Vườn Thượng Uyển,+ cho đến tận Cầu Thang+ đi từ Thành Đa-vít+ xuống.

16 Sau ông có Nê-hê-mi con trai A-búc, quan của nửa vùng Bết-xu-rơ,+ làm việc sửa chữa từ phía trước Khu Lăng Tẩm của Đa-vít+ cho đến hồ+ được xây và đến tận Nhà Các Dũng Sĩ.

17 Sau ông có những người Lê-vi làm việc sửa chữa, gồm: Rê-hum con trai Ba-ni; kế bên có Ha-sa-bia, quan của nửa vùng Kê-i-la,+ làm việc sửa chữa cho vùng của mình. 18 Sau ông có các anh em của họ làm việc sửa chữa, gồm: Ba-vai con trai Hê-na-đát, quan của nửa vùng Kê-i-la.

19 Kế bên có Ét-xe con trai Giê-sua,+ quan của Mích-ba, đang sửa chữa một phần khác ở phía trước của dốc đi lên Kho Khí Giới nơi Cột Chống Đỡ.+

20 Sau ông có Ba-rúc con trai Xáp-bai+ làm việc nhiệt tình và sửa chữa một phần khác, từ Cột Chống Đỡ cho đến tận lối vào nhà của thầy tế lễ thượng phẩm Ê-li-a-síp.+

21 Sau ông có Mê-rê-mốt,+ con trai U-ri-gia, cháu Ha-cốt, sửa chữa một phần khác, từ lối vào nhà của Ê-li-a-síp cho đến tận cuối nhà của Ê-li-a-síp.

22 Sau ông có các thầy tế lễ, là những người thuộc vùng Giô-đanh,*+ làm việc sửa chữa. 23 Sau họ có Bên-gia-min và Ha-súp làm việc sửa chữa ở phía trước nhà mình. Sau họ có A-xa-ria, con trai Ma-a-xê-gia, cháu A-na-ni-gia, làm việc sửa chữa gần nhà mình. 24 Sau ông có Bin-nui con trai Hê-na-đát sửa chữa một phần khác, từ nhà của A-xa-ria cho đến Cột Chống Đỡ+ và đến tận góc tường thành.

25 Sau ông có Pha-lanh con trai U-xai làm việc sửa chữa ở phía trước Cột Chống Đỡ và tháp nhô ra từ Cung Vua,+ là tháp trên thuộc Sân Vệ Binh.+ Sau ông có Phê-đa-gia con trai Pha-rốt.+

26 Các tôi tớ đền thờ*+ sống tại Ô-phên+ thì làm việc sửa chữa cho đến tận trước Cổng Nước+ ở phía đông và tháp nhô ra.

27 Sau họ có người Thê-cô-a+ sửa chữa một phần khác, từ phía trước tháp lớn nhô ra cho đến tận tường của Ô-phên.

28 Các thầy tế lễ sửa chữa bên trên Cổng Ngựa,+ mỗi người sửa ở phía trước nhà mình.

29 Sau họ có Xa-đốc+ con trai Y-mê làm việc sửa chữa ở phía trước nhà mình.

Sau ông có Sê-ma-gia con trai Sê-ca-nia, là người canh gác Cổng Đông,+ làm việc sửa chữa.

30 Sau ông có Ha-na-nia con trai Sê-lê-mia và Ha-nun con trai thứ sáu của Xa-láp sửa chữa một phần khác.

Sau ông có Mê-su-lam+ con trai Bê-rê-kia làm việc sửa chữa ở phía trước phòng mình.

31 Sau ông có Manh-ki-gia, thành viên của hội thợ kim hoàn, làm việc sửa chữa cho đến tận nhà của các tôi tớ đền thờ*+ và các nhà buôn, ở phía trước Cổng Duyệt Binh và cho đến tận phòng trên sân thượng của góc tường thành.

32 Giữa phòng trên sân thượng của góc tường thành và Cổng Cừu+ có các thợ kim hoàn và nhà buôn làm việc sửa chữa.

4 Vừa khi hay tin chúng tôi đang xây lại tường, San-ba-lát+ nổi giận và rất tức tối,* hắn cứ chế nhạo người Do Thái. 2 Trước mặt anh em mình và đạo quân Sa-ma-ri, hắn nói: “Những tên Do Thái yếu ớt kia đang làm gì vậy? Chúng sẽ tự mình làm việc này sao? Chúng sẽ dâng vật tế lễ ư? Chúng sẽ hoàn tất trong một ngày chăng? Chúng sẽ phục hồi đá cháy từ đống đổ nát bụi bặm này sao?”.+

3 Bấy giờ, Tô-bia+ người Am-môn+ đang đứng bên cạnh hắn và nói: “Thậm chí một con cáo leo lên cũng có thể làm sập tường đá chúng đang xây”.

4 Ôi Đức Chúa Trời chúng con, xin hãy lắng nghe vì chúng con đang bị khinh thường,+ xin ngài khiến lời sỉ nhục của chúng đổ lại trên đầu chúng+ và phó chúng làm của cướp trong xứ mà chúng bị lưu đày. 5 Xin đừng che lấp tội lỗi chúng hay xóa tội chúng trước mặt ngài,+ vì chúng đã nhục mạ những người xây cất.

6 Vậy, chúng tôi cứ xây lại tường, cả bức tường được nối liền với nhau và được xây lên đến nửa chiều cao; dân chúng tiếp tục hết lòng với công việc.

7 Vừa khi San-ba-lát và Tô-bia+ cùng với người Ả Rập,+ người Am-môn và người Ách-đốt+ nghe tin việc sửa chữa tường thành Giê-ru-sa-lem đang tiến triển và những lỗ hổng đang được lấp lại, chúng vô cùng tức giận. 8 Chúng cùng nhau lập mưu để tiến đánh Giê-ru-sa-lem và gây náo loạn trong thành. 9 Nhưng chúng tôi cầu nguyện với Đức Chúa Trời chúng tôi và bố trí người canh gác ngày đêm để đề phòng chúng.

10 Tuy nhiên, dân Giu-đa nói: “Sức lực của người lao động* đã kiệt quệ mà đá vụn lại quá nhiều; chúng ta sẽ chẳng bao giờ xây được tường này đâu”.

11 Các kẻ thù chúng tôi cứ nói: “Khi chúng chưa biết chuyện gì xảy ra hoặc chưa thấy chúng ta thì chúng ta sẽ ập đến giữa chúng, giết chúng đi và làm ngưng công việc đó”.

12 Mỗi khi những người Do Thái sống gần chúng đến, họ nói đi nói lại* với chúng tôi rằng: “Chúng sẽ tấn công chúng ta từ mọi hướng”.

13 Vì vậy, tôi bố trí người canh gác tại các phần thấp nhất phía sau tường, tại những nơi trống trải, và bố trí họ theo gia tộc, cầm gươm, giáo và cung. 14 Khi thấy họ sợ hãi, tôi liền trỗi dậy và nói với các bậc quyền quý,+ quan cấp dưới cùng những người còn lại trong dân chúng rằng: “Đừng sợ chúng.+ Hãy nhớ đến Đức Giê-hô-va, là đấng vĩ đại và đáng kính sợ,+ mà chiến đấu cho anh em mình, cho con trai, con gái, vợ và nhà mình”.

15 Sau khi kẻ thù nghe tin chúng tôi biết được âm mưu của chúng và Đức Chúa Trời đã phá hỏng kế hoạch của chúng, hết thảy chúng tôi trở lại công việc xây tường. 16 Từ hôm đó trở đi, một nửa số người của tôi làm việc,+ còn nửa kia được trang bị giáo, khiên, cung và áo giáp. Các quan+ thì đứng sau cả nhà Giu-đa, 17 là những người đang xây tường. Những người khiêng vác làm việc bằng một tay, còn tay kia cầm vũ khí. 18 Mỗi người xây cất đều đeo gươm bên hông trong khi làm việc, còn người thổi tù và+ thì đứng bên cạnh tôi.

19 Sau đó, tôi nói với các bậc quyền quý và các quan cấp dưới cùng những người còn lại trong dân chúng rằng: “Công việc này lớn lao và trải rộng, còn chúng ta làm việc rải rác quanh tường, cách xa nhau. 20 Khi anh em nghe tiếng tù và, hãy nhóm lại tại chỗ chúng tôi. Đức Chúa Trời chúng ta sẽ chiến đấu cho chúng ta”.+

21 Vậy, từ rạng đông cho đến lúc sao mọc, chúng tôi tiếp tục làm việc trong khi một nửa kia cầm giáo. 22 Bấy giờ, tôi nói với dân chúng: “Mỗi người, cùng người hầu việc của mình, hãy ở qua đêm trong thành Giê-ru-sa-lem, để có thể canh gác ban đêm và làm việc ban ngày”. 23 Thế là tôi, anh em cùng những người hầu việc của tôi+ và những người canh gác theo tôi không bao giờ cởi áo, ai nấy cầm vũ khí trong tay phải mình.

5 Tuy nhiên, những người đàn ông và vợ họ lớn tiếng kêu ca với anh em Do Thái của mình.+ 2 Một số người nói: “Chúng tôi rất đông đảo vì có nhiều con trai và con gái, nên phải có ngũ cốc ăn để sống chứ”. 3 Số khác nói: “Chúng tôi phải cầm cố ruộng đất, vườn nho và nhà cửa để có ngũ cốc ăn trong lúc đói kém”. 4 Cũng có những người nói: “Chúng tôi đã thế chấp ruộng đất và vườn nho để vay tiền cống nạp cho vua.+ 5 Chúng tôi cùng máu mủ ruột thịt với anh em mình, con cái chúng tôi giống như con cái họ; thế mà chúng tôi phải để con trai, con gái mình đi làm nô lệ, và một số con gái chúng tôi đã làm nô lệ rồi.+ Chúng tôi bất lực, không thể chấm dứt tình trạng này vì ruộng đất và vườn nho chúng tôi đã thuộc về người khác”.

6 Khi nghe tiếng kêu ca của họ và những lời ấy, tôi rất phẫn nộ. 7 Vì thế, tôi xem xét kỹ sự việc rồi khiển trách các bậc quyền quý cùng quan cấp dưới và nói với họ rằng: “Mỗi người trong anh em đều đòi chính anh em mình trả lãi”.*+

Ngoài ra, vì cớ họ mà tôi sắp xếp một buổi họp lớn. 8 Tôi nói với họ: “Chúng tôi đã làm hết khả năng để mua lại những người anh em Do Thái từng bị bán cho các nước, nhưng nay lẽ nào anh em lại bán chính anh em mình+ để họ bị bán lại cho chúng tôi sao?”. Nghe vậy họ lặng thinh, không nói được lời nào. 9 Rồi tôi nói: “Điều anh em làm thật không tốt chút nào. Chẳng phải anh em nên bước đi trong sự kính sợ Đức Chúa Trời,+ hầu cho các nước, tức kẻ thù chúng ta, không thể sỉ nhục chúng ta sao? 10 Hơn nữa, tôi cùng anh em và những người hầu việc của tôi đang cho họ vay mượn tiền và ngũ cốc. Vậy, chúng ta hãy chấm dứt việc cho vay lấy lãi này.+ 11 Ngay hôm nay, xin anh em hãy hoàn lại cho họ ruộng đất,+ vườn nho, vườn ô-liu, nhà cửa cũng như một phần trăm* tiền, ngũ cốc, rượu mới và dầu mà anh em đang đòi họ trả lãi”.

12 Bấy giờ, họ đáp: “Chúng tôi sẽ hoàn lại mọi thứ ấy cho họ mà chẳng đòi lại gì cả. Chúng tôi sẽ làm đúng như lời ông nói”. Thế là tôi gọi các thầy tế lễ đến và buộc những người đó thề giữ lời hứa này. 13 Tôi cũng giũ ngực áo mình và nói: “Kẻ nào không thực hiện lời hứa này, nguyện Đức Chúa Trời giũ sạch nhà cửa và tài sản của hắn giống như thế, nguyện hắn bị giũ sạch và trắng tay như vậy”. Toàn thể hội chúng bèn đáp: “A-men!”,* rồi họ ngợi khen Đức Giê-hô-va và thực hiện lời mình đã hứa.

14 Hơn nữa, từ ngày vua bổ nhiệm tôi làm quan tổng đốc của họ+ trong xứ Giu-đa, từ năm thứ hai mươi+ đến năm thứ ba mươi hai+ triều đại vua Ạt-ta-xét-xe,+ tức là 12 năm, cả tôi và anh em tôi đều không ăn phần lương thực cấp cho quan tổng đốc.+ 15 Nhưng các quan tổng đốc trước tôi đã chất gánh nặng lên dân chúng và thu của họ 40 siếc-lơ* bạc cho bánh và rượu mỗi ngày. Những người hầu việc của họ cũng áp bức dân chúng. Nhưng tôi không làm thế+ vì kính sợ Đức Chúa Trời.+

16 Ngoài ra, tôi cũng giúp một tay trong công việc xây tường này, và chúng tôi không lấy một mảnh đất nào;+ tất cả người hầu việc của tôi đều tập hợp lại tại đó để làm việc. 17 Có 150 người Do Thái và quan cấp dưới ăn tại bàn tôi, ngoài ra cũng có những người từ các nước đến với chúng tôi. 18 Mỗi ngày có một con bò đực, sáu con cừu tốt và chim được dọn cho tôi,* và cứ mười ngày thì chúng tôi có dư dật mọi loại rượu. Dù vậy, tôi không đòi hỏi phần lương thực cấp cho quan tổng đốc, vì dân chúng đã chịu phục dịch nặng gánh rồi. 19 Lạy Đức Chúa Trời của con, xin hãy nhớ đến con và ban ơn cho con vì mọi việc con làm cho dân này.+

6 Vừa khi San-ba-lát, Tô-bia,+ Ghê-sem người Ả Rập+ cùng những kẻ thù khác biết được tôi đã xây lại tường+ và không còn lỗ hổng nào trên tường (dù đến lúc đó, tôi vẫn chưa lắp các cánh cổng),+ 2 San-ba-lát và Ghê-sem liền gửi thông điệp này cho tôi: “Nào, chúng ta hãy định một thời điểm để gặp nhau tại các làng của đồng bằng Ô-nô”.+ Nhưng chúng đang âm mưu hãm hại tôi. 3 Vậy, tôi sai các sứ giả đến nói với chúng rằng: “Tôi đang tham gia vào một công việc lớn lao nên không thể đi xuống. Sao công việc phải ngừng lại trong lúc tôi đến gặp các ông?”. 4 Bốn lần chúng gửi cho tôi cùng một thông điệp và mỗi lần tôi đều trả lời như nhau.

5 Rồi lần thứ năm, San-ba-lát sai người hầu việc của hắn đến gặp tôi với cùng một thông điệp, trên tay cầm bức thư không niêm phong. 6 Bức thư ấy viết như sau: “Dân trong các nước đã nghe và Ghê-sem+ cũng nói rằng ông cùng người Do Thái đang mưu phản.+ Đó là lý do ông xây tường, và theo các báo cáo này thì ông sẽ làm vua của họ. 7 Ông còn lập các nhà tiên tri để công bố về ông trên khắp Giê-ru-sa-lem rằng: ‘Có một vua trong Giu-đa!’. Những điều ấy rồi sẽ được báo cho vua. Vậy, hãy đến để chúng ta cùng bàn bạc vấn đề này”.

8 Thế nhưng, tôi hồi âm cho hắn như vầy: “Không hề có chuyện như ông nói; ông chỉ tự thêu dệt trong trí tưởng tượng* thôi”. 9 Hết thảy bọn chúng cố làm chúng tôi sợ hãi và nói: “Tay chúng sẽ chậm lại trong công việc và việc ấy sẽ chẳng hoàn tất đâu”.+ Giờ đây, con cầu xin ngài làm tay con mạnh mẽ.+

10 Rồi tôi đến nhà Sê-ma-gia, con trai Đê-la-gia, cháu Mê-hê-ta-bê-ên, trong khi hắn bị giới hạn ở đó. Hắn nói: “Chúng ta hãy định một thời điểm để gặp nhau tại nhà Đức Chúa Trời, bên trong đền thờ, và chúng ta hãy đóng cửa đền thờ lại vì chúng sẽ đến giết ông. Chúng sẽ đến giết ông vào ban đêm”. 11 Nhưng tôi nói: “Người như tôi có cần chạy trốn không? Người như tôi có thể vào đền thờ mà giữ được mạng mình sao?+ Tôi sẽ không vào!”. 12 Rồi tôi nhận ra rằng Đức Chúa Trời không phái hắn đến mà do Tô-bia và San-ba-lát+ đã thuê hắn nói lời tiên tri này nhằm chống lại tôi. 13 Hắn được thuê để khiến tôi sợ hãi và phạm tội, nhờ thế chúng có cớ để hủy hoại thanh danh của tôi nhằm sỉ nhục tôi.

14 Ôi Đức Chúa Trời của con, xin hãy nhớ Tô-bia+ và San-ba-lát cùng các việc làm ấy, cả nữ tiên tri Nô-a-đia và những kẻ tiên tri khác, là những kẻ luôn tìm cách làm con sợ hãi.

15 Vậy, tường được hoàn tất vào ngày 25 của tháng Ê-lun,* tức là trong 52 ngày.

16 Vừa khi mọi kẻ thù nghe tin ấy và tất cả các nước xung quanh thấy tường đó, chúng vô cùng hổ thẹn+ và nhận ra rằng công việc này hoàn tất là nhờ Đức Chúa Trời chúng tôi trợ giúp. 17 Trong những ngày ấy, các bậc quyền quý+ của Giu-đa đã gửi nhiều bức thư cho Tô-bia, và Tô-bia cũng phúc đáp họ. 18 Nhiều người trong Giu-đa thề trung thành với hắn, vì hắn là con rể của Sê-ca-nia con trai A-rách,+ và con trai hắn là Giê-hô-ha-nan đã cưới con gái Mê-su-lam+ con trai Bê-rê-kia. 19 Họ cũng luôn nói với tôi những điều tốt về hắn rồi báo cho hắn những gì tôi nói. Sau đó, Tô-bia gửi các bức thư để làm tôi sợ hãi.+

7 Vừa khi tường được xây lại,+ tôi lắp các cánh cổng+ rồi giao nhiệm vụ cho những người gác cổng,+ người ca hát+ và người Lê-vi.+ 2 Sau đó, tôi giao việc cai quản Giê-ru-sa-lem cho người anh em mình là Ha-na-ni+ và thủ lĩnh Thành Trì+ là Ha-na-nia, vì Ha-na-nia là người rất đáng tin cậy và kính sợ Đức Chúa Trời+ hơn nhiều người khác. 3 Vậy, tôi nói với họ: “Không nên mở các cổng của Giê-ru-sa-lem trước khi trời nắng nóng; họ phải đóng cửa và cài chốt khi vẫn còn đứng canh gác. Hãy giao cho cư dân Giê-ru-sa-lem nhiệm vụ canh gác, người thì ở trạm canh được chỉ định, người thì ở phía trước nhà mình”. 4 Thành rộng lớn nhưng dân trong thành lại ít,+ và nhà cửa chưa được xây lại.

5 Nhưng Đức Chúa Trời tôi đặt vào lòng tôi ý tưởng triệu tập các bậc quyền quý, quan cấp dưới cùng dân chúng để ghi tên của họ vào gia phả.+ Sau đó, tôi tìm thấy gia phả của những người trở về trước tiên, và thấy trong đó có viết:

6 “Đây là những người dân của tỉnh đã đi lên khỏi chốn lưu đày, là những người đã bị vua Nê-bu-cát-nết-xa+ của Ba-by-lôn bắt đi lưu đày+ và sau này trở về Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, ai nấy về thành của mình.+ 7 Họ là những người đi cùng Xô-rô-ba-bên,+ Giê-sua,+ Nê-hê-mi, A-xa-ria, Ra-a-mia, Na-ha-ma-ni, Mạc-đô-chê, Binh-san, Mích-bê-rết, Biết-vai, Nê-hun và Ba-a-nát.

Số người nam Y-sơ-ra-ên gồm:+ 8 con cháu Pha-rốt gồm 2.172 người; 9 con cháu Sê-pha-tia gồm 372 người; 10 con cháu A-rách+ gồm 652 người; 11 con cháu Pha-hát-mô-áp,+ thuộc con cháu Giê-sua và Giô-áp,+ gồm 2.818 người; 12 con cháu Ê-lam+ gồm 1.254 người; 13 con cháu Xát-tu gồm 845 người; 14 con cháu Xa-cai gồm 760 người; 15 con cháu Bin-nui gồm 648 người; 16 con cháu Bê-bai gồm 628 người; 17 con cháu A-gát gồm 2.322 người; 18 con cháu A-đô-ni-cam gồm 667 người; 19 con cháu Biết-vai gồm 2.067 người; 20 con cháu A-đin gồm 655 người; 21 con cháu A-te, thuộc nhà Ê-xê-chia, gồm 98 người; 22 con cháu Ha-sum gồm 328 người; 23 con cháu Bết-xai gồm 324 người; 24 con cháu Ha-ríp gồm 112 người; 25 con cháu Ga-ba-ôn+ gồm 95 người; 26 người Bết-lê-hem và Nê-tô-pha gồm 188 người; 27 người A-na-tốt+ gồm 128 người; 28 người Bết-ách-ma-vết gồm 42 người; 29 người Ki-ri-át-giê-a-rim,+ Kê-phi-ra và Bê-e-rốt+ gồm 743 người; 30 người Ra-ma và Ghê-ba+ gồm 621 người; 31 người Mích-ma+ gồm 122 người; 32 người Bê-tên+ và A-i+ gồm 123 người; 33 người thuộc Nê-bô khác gồm 52 người; 34 con cháu của Ê-lam khác gồm 1.254 người; 35 con cháu Ha-rim gồm 320 người; 36 con cháu Giê-ri-cô gồm 345 người; 37 con cháu Lô-đơ, Ha-đích và Ô-nô+ gồm 721 người; 38 con cháu Sê-na gồm 3.930 người.

39 Các thầy tế lễ:+ con cháu Giê-đa-gia, thuộc nhà Giê-sua, gồm 973 người; 40 con cháu Y-mê gồm 1.052 người; 41 con cháu Pha-su-rơ+ gồm 1.247 người; 42 con cháu Ha-rim+ gồm 1.017 người.

43 Người Lê-vi:+ con cháu Giê-sua, tức con cháu Cát-mi-ên,+ thuộc con cháu Hô-đê-va, gồm 74 người. 44 Những người ca hát:+ con cháu A-sáp+ gồm 148 người. 45 Những người gác cổng:+ con cháu Sa-lum, con cháu A-te, con cháu Tanh-môn, con cháu A-cúp,+ con cháu Ha-ti-ta và con cháu Sô-bai, gồm 138 người.

46 Các tôi tớ đền thờ:*+ con cháu Xi-ha, con cháu Ha-su-pha, con cháu Ta-ba-ốt, 47 con cháu Kê-rốt, con cháu Sia, con cháu Pha-đôn, 48 con cháu Lê-ba-na, con cháu Ha-ga-ba, con cháu Sanh-mai, 49 con cháu Ha-nan, con cháu Ghi-đên, con cháu Ga-cha, 50 con cháu Rê-a-gia, con cháu Rê-xin, con cháu Nê-cô-đa, 51 con cháu Ga-xam, con cháu U-gia, con cháu Pha-sê-a, 52 con cháu Bê-sai, con cháu Mê-u-nim, con cháu Nê-phi-sê-sim, 53 con cháu Bác-búc, con cháu Ha-cu-pha, con cháu Ha-rua, 54 con cháu Bát-lít, con cháu Mê-hi-đa, con cháu Hạt-sa, 55 con cháu Bạt-cô, con cháu Si-sê-ra, con cháu Tha-mác, 56 con cháu Nê-xia và con cháu Ha-ti-pha.

57 Con cháu của các tôi tớ Sa-lô-môn:+ con cháu Sô-tai, con cháu Sô-phê-rết, con cháu Phê-ri-đa, 58 con cháu Gia-a-la, con cháu Đạt-côn, con cháu Ghi-đên, 59 con cháu Sê-pha-tia, con cháu Hát-tinh, con cháu Phô-kê-rết-hát-xê-ba-im và con cháu A-môn. 60 Hết thảy tôi tớ đền thờ*+ và con cháu của các tôi tớ Sa-lô-môn gồm 392 người.

61 Cũng có những người đi lên từ Tên-mê-la, Tên-hạt-sa, Kê-rúp, A-đôn và Y-mê nhưng họ không thể xác định dòng tộc và gốc gác để chứng minh mình có phải là người Y-sơ-ra-ên hay không.+ Họ gồm: 62 con cháu Đê-la-gia, con cháu Tô-bia và con cháu Nê-cô-đa, gồm 642 người. 63 Về các thầy tế lễ: con cháu Ha-ba-gia, con cháu Ha-cốt,+ con cháu Bát-xi-lai, là người cưới một trong những con gái của Bát-xi-lai+ người Ga-la-át và lấy tên của gia đình vợ. 64 Những người ấy tìm kiếm tên của dòng họ trong sổ sách để xác định gia phả của mình nhưng không tìm được, vì thế họ không hội đủ điều kiện làm thầy tế lễ.*+ 65 Quan tổng đốc*+ bảo họ không nên ăn các vật rất thánh+ cho đến khi một thầy tế lễ cầu hỏi qua U-rim và Thu-mim.+

66 Tổng số của cả hội chúng là 42.360 người,+ 67 chưa kể 7.337 nô lệ nam và nữ,+ cũng như 245 người ca hát nam và nữ+ của họ. 68 Họ có 736 con ngựa, 245 con la, 69 435 con lạc đà và 6.720 con lừa.

70 Một số người đứng đầu các dòng tộc đã đóng góp cho công việc.+ Quan tổng đốc* đóng góp vào kho báu 1.000 đồng đơ-rác-ma* vàng, 50 bát và 530 áo thụng của thầy tế lễ.+ 71 Một số người đứng đầu dòng tộc đóng góp cho kho báu của dự án 20.000 đồng đơ-rác-ma vàng và 2.200 mi-na* bạc. 72 Những người còn lại trong dân chúng đóng góp 20.000 đồng đơ-rác-ma vàng, 2.000 mi-na bạc và 67 áo thụng của thầy tế lễ.

73 Các thầy tế lễ, người Lê-vi, người gác cổng, người ca hát,+ một số người dân, tôi tớ đền thờ* và tất cả người Y-sơ-ra-ên còn lại đều sinh sống trong thành của họ.+ Đến tháng thứ bảy,+ người Y-sơ-ra-ên đã sinh sống trong thành của họ”.+

8 Sau đó, toàn thể dân chúng đồng lòng nhóm nhau lại tại quảng trường phía trước Cổng Nước+ rồi xin Ê-xơ-ra,+ người sao chép,* đem đến sách Luật pháp Môi-se+ mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Y-sơ-ra-ên.+ 2 Thế là vào ngày mùng một của tháng thứ bảy,+ thầy tế lễ Ê-xơ-ra mang sách Luật pháp đến trước hội chúng+ gồm nam, nữ cùng tất cả những người có thể nghe và hiểu. 3 Tại quảng trường phía trước Cổng Nước, ông đọc lớn tiếng những gì ghi trong đó+ từ tảng sáng đến giữa trưa cho các người nam, nữ cùng tất cả những người có thể hiểu được; dân chúng chăm chú lắng nghe+ lời trong sách Luật pháp. 4 Ê-xơ-ra, người sao chép,* đứng trên một bục gỗ được làm cho dịp này; đứng bên phải ông là Ma-ti-thia, Sê-ma, A-na-gia, U-ri-a, Hinh-kia và Ma-a-xê-gia, còn bên trái ông là Phê-đa-gia, Mi-sa-ên, Manh-ki-gia,+ Ha-sum, Hách-ba-đa-na, Xa-cha-ri và Mê-su-lam.

5 Ê-xơ-ra mở sách và toàn dân đều nhìn thấy vì ông đứng cao hơn họ. Khi ông mở sách thì toàn dân đứng dậy. 6 Sau đó, Ê-xơ-ra ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời, đấng vĩ đại; lúc ấy toàn thể dân chúng đáp: “A-men!* A-men!”+ và giơ tay lên trời. Rồi họ quỳ sấp mặt xuống đất trước Đức Giê-hô-va. 7 Những người Lê-vi gồm Giê-sua, Ba-ni, Sê-rê-bia,+ Gia-min, A-cúp, Sa-bê-thai, Hô-đi-gia, Ma-a-xê-gia, Kê-li-ta, A-xa-ria, Giô-xa-bát,+ Ha-nan và Phê-la-gia giải thích Luật pháp cho dân chúng,+ còn dân chúng thì vẫn đứng. 8 Họ tiếp tục đọc lớn tiếng những lời trong sách, từ Luật pháp của Đức Chúa Trời, rồi giải thích rõ ràng và cắt nghĩa những lời ấy; như thế họ giúp dân chúng hiểu những gì vừa đọc.+

9 Nê-hê-mi, quan tổng đốc* lúc bấy giờ, cùng Ê-xơ-ra,+ thầy tế lễ kiêm người sao chép,* và những người Lê-vi dạy dỗ dân chúng nói với toàn dân rằng: “Hôm nay là ngày thánh đối với Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em.+ Chớ buồn rầu hay khóc lóc”, vì toàn thể dân chúng đều khóc khi nghe những lời của Luật pháp. 10 Ông nói với họ: “Hãy đi ăn đồ ngon và uống thứ gì ngọt rồi gửi các phần thức ăn+ cho những người không chuẩn bị gì; hôm nay là ngày thánh đối với Chúa chúng ta nên chớ buồn rầu, vì niềm vui của Đức Giê-hô-va là thành lũy* của anh em”. 11 Người Lê-vi trấn an toàn thể dân chúng rằng: “Anh em đừng khóc nữa! Vì hôm nay là ngày thánh nên chớ buồn rầu”. 12 Thế là cả dân đi ra ăn uống rồi gửi đi các phần thức ăn và vui mừng khôn xiết,+ vì họ hiểu những lời đã được phổ biến cho mình.+

13 Vào ngày thứ hai, những người đứng đầu các dòng tộc của toàn thể dân chúng, các thầy tế lễ và người Lê-vi nhóm lại xung quanh Ê-xơ-ra, người sao chép,* để thông hiểu thêm về lời của Luật pháp. 14 Sau đó, họ thấy trong Luật pháp mà Đức Giê-hô-va đã truyền qua Môi-se có viết rằng người Y-sơ-ra-ên phải ở trong lều* suốt kỳ lễ vào tháng thứ bảy,+ 15 cũng phải tuyên bố+ và thông báo khắp các thành mình và Giê-ru-sa-lem rằng: “Hãy đi ra vùng núi và mang về những cành rậm lá của cây ô-liu, cây tùng, cây sim, cây chà là và các cây khác để dựng lều, như lời đã chép”.

16 Thế là dân chúng đi ra và mang những cành lá về để dựng lều cho mình, ai nấy làm trên sân thượng, trong sân nhà mình, trong các sân của nhà Đức Chúa Trời,+ tại quảng trường của Cổng Nước+ và quảng trường của Cổng Ép-ra-im.+ 17 Vậy, hết thảy những người trở về từ chốn lưu đày đã dựng lều và ở trong lều. Từ thời Giô-suê+ con trai Nun cho đến hôm đó, dân Y-sơ-ra-ên chưa làm theo cách này bao giờ nên họ vui mừng khôn xiết.+ 18 Mỗi ngày đều có phần đọc sách Luật pháp của Đức Chúa Trời,+ từ ngày đầu đến ngày cuối. Họ cử hành lễ trong bảy ngày, và có một kỳ nhóm họp trọng thể vào ngày thứ tám theo quy định.+

9 Vào ngày 24 của tháng ấy, người Y-sơ-ra-ên tập hợp lại; họ kiêng ăn, mặc vải thô và rắc bụi lên người.+ 2 Rồi những người thuộc dòng dõi Y-sơ-ra-ên tách biệt khỏi tất cả người ngoại quốc;+ họ đứng dậy xưng tội mình và lỗi lầm của cha ông.+ 3 Sau đó, họ đứng tại chỗ mình và đọc lớn tiếng từ sách Luật pháp+ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình trong một phần tư ngày* hôm đó; trong một phần tư khác của ngày, họ xưng tội và quỳ lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình.

4 Giê-sua, Ba-ni, Cát-mi-ên, Sê-ba-nia, Bun-ni, Sê-rê-bia,+ Ba-ni và Kê-na-ni đứng trên bục cao+ dành cho người Lê-vi; họ kêu cầu lớn tiếng với Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình. 5 Những người Lê-vi gồm Giê-sua, Cát-mi-ên, Ba-ni, Ha-sáp-nia, Sê-rê-bia, Hô-đi-gia, Sê-ba-nia và Phê-ta-hia nói: “Hãy đứng dậy và chúc tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em từ nay cho đến mãi mãi.*+ Lạy Đức Chúa Trời, nguyện họ ngợi khen danh vinh hiển của ngài, là danh được tôn cao hơn mọi ân phước và sự ngợi khen.

6 Chỉ mình ngài là Đức Giê-hô-va;+ ngài đã dựng nên các tầng trời, phải, trời của các tầng trời và mọi đạo quân của chúng, trái đất và mọi vật trên đó, biển và mọi vật trong đó. Ngài bảo tồn sự sống cho hết thảy chúng, và đạo quân trên trời đang quỳ lạy trước ngài. 7 Ngài là Giê-hô-va Đức Chúa Trời thật, đấng đã chọn Áp-ram+ và đưa ông ra khỏi U-rơ+ của người Canh-đê rồi ban cho ông tên Áp-ra-ham.+ 8 Ngài thấy lòng ông trung tín trước mặt ngài+ nên lập giao ước với ông là ban cho ông xứ của dân Ca-na-an, dân Hếch, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Giê-bu và dân Ghi-rê-ga-sít, tức ban xứ ấy cho dòng dõi ông;+ ngài đã giữ lời hứa vì ngài là công chính.

9 Ngài thấy sự khốn khổ của tổ phụ chúng con tại Ai Cập+ và nghe tiếng kêu cầu của họ tại Biển Đỏ. 10 Rồi ngài làm các dấu lạ và phép lạ chống lại Pha-ra-ôn cùng mọi tôi tớ và dân xứ hắn,+ vì ngài biết chúng đã hành động một cách tự phụ*+ chống lại họ. Ngài tạo một danh cho mình và danh ấy còn đến ngày nay.+ 11 Ngài rẽ biển trước mặt họ để họ băng qua biển trên đất khô,+ còn những kẻ đuổi theo họ thì ngài quăng xuống đáy biển sâu như ném đá xuống dòng nước cuồn cuộn.+ 12 Ngài dẫn dắt họ ban ngày bằng trụ mây, ban đêm bằng trụ lửa, để soi sáng con đường họ phải đi.+ 13 Ngài còn ngự xuống núi Si-nai+ và phán với họ từ trời,+ cũng như ban cho họ những phán quyết công chính, điều luật chân thật,* điều lệ cùng điều răn tốt lành.+ 14 Ngài cho họ biết ngày Sa-bát thánh+ của ngài và ban cho họ các điều răn, điều lệ cùng luật pháp qua tôi tớ ngài là Môi-se. 15 Ngài ban cho họ bánh từ trời khi họ đói+ và khiến nước chảy ra từ vách đá khi họ khát;+ ngài cũng truyền bảo họ vào nhận lấy xứ mà ngài đã thề* ban cho họ.

16 Nhưng họ, tức là tổ phụ chúng con, đã hành động một cách tự phụ*+ và trở nên cứng cổ,+ không nghe theo điều răn ngài. 17 Họ không chịu lắng nghe,+ cũng không nhớ những việc lạ thường mà ngài đã thực hiện giữa họ, nhưng lại trở nên cứng cổ và lập người đứng đầu để quay về với cảnh nô lệ ở Ai Cập.+ Dù vậy, ngài là Đức Chúa Trời sẵn lòng tha thứ, trắc ẩn, thương xót, chậm nóng giận và giàu tình yêu thương thành tín;+ ngài đã không từ bỏ họ.+ 18 Ngay cả khi họ làm tượng đúc hình bò con cho mình rồi nói: ‘Đây là Đức Chúa Trời của chúng ta, là đấng dẫn chúng ta ra khỏi Ai Cập’,+ và họ đã hành động vô cùng bất kính, 19 ngay cả khi đó thì vì lòng thương xót lớn lao, ngài vẫn không bỏ mặc họ trong hoang mạc.+ Ban ngày trụ mây dẫn đường không lìa khỏi họ, ban đêm trụ lửa vẫn soi sáng con đường họ phải đi.+ 20 Ngài đã ban thần khí tốt lành để họ có sự thông hiểu,+ chẳng từ chối ban ma-na cho miệng họ;+ ngài cũng ban nước khi họ khát.+ 21 Trong 40 năm tại hoang mạc, ngài cung cấp thức ăn cho họ.+ Họ không thiếu thốn gì cả. Áo họ chẳng sờn+ và chân họ chẳng sưng.

22 Ngài ban các vương quốc và các dân cho họ, phân chia từng phần một+ để họ nhận lấy xứ Si-hôn,+ tức là xứ của vua Hết-bôn,+ cũng như xứ của Óc,+ vua Ba-san. 23 Ngài làm cho con cháu họ nhiều như sao trên trời.+ Rồi ngài đưa họ vào xứ mà ngài đã hứa với tổ phụ họ là họ sẽ được vào nhận lấy.+ 24 Thế là con cháu họ đã vào nhận lấy xứ.+ Trước mặt họ, ngài đã chinh phục dân Ca-na-an,+ là cư dân của xứ; ngài phó chúng vào tay họ, cả các vua lẫn dân của xứ, để họ làm gì chúng tùy ý. 25 Họ chiếm được các thành kiên cố+ và vùng đất màu mỡ;+ họ cũng chiếm được các ngôi nhà chứa đầy những thứ tốt đẹp, các bể đã đào, vườn nho, vườn ô-liu+ và rất nhiều cây trái. Thế là họ ăn, được thỏa lòng và mập mạp; họ thỏa thuê trong sự tốt lành lớn lao của ngài.

26 Tuy nhiên, họ trở nên bất tuân và phản nghịch ngài,+ quay lưng lại với Luật pháp ngài.* Họ đã giết các nhà tiên tri của ngài, là những người cảnh báo họ để mang họ trở lại với ngài, và họ đã hành động vô cùng bất kính.+ 27 Bởi thế, ngài phó họ vào tay kẻ đối địch+ và chúng cứ khiến họ bị khốn khổ.+ Nhưng trong lúc khốn khổ, họ kêu cầu ngài, và ngài lắng nghe từ trời; vì lòng thương xót lớn lao mà ngài ban cho họ những người giải cứu để cứu họ khỏi tay kẻ đối địch.+

28 Nhưng vừa khi được an ổn, họ lại làm điều xấu xa trước mặt ngài+ nên ngài đã bỏ mặc họ rơi vào tay kẻ thù và chúng thống trị họ.*+ Rồi họ trở lại và kêu cầu ngài giúp đỡ;+ từ trên trời ngài lắng nghe và giải cứu họ hết lần này đến lần khác vì lòng thương xót lớn lao của ngài.+ 29 Dù ngài cảnh báo họ để mang họ trở lại với Luật pháp ngài nhưng họ cư xử một cách tự phụ* và không chịu nghe theo các điều răn ngài;+ họ đã phạm tội nghịch lại các điều lệ ngài, là các điều lệ mà ai vâng giữ thì sẽ sống.+ Nhưng họ ngoan cố quay lưng, cứng cổ không chịu lắng nghe. 30 Ngài đã kiên nhẫn với họ+ trong nhiều năm và tiếp tục cảnh báo họ bằng thần khí ngài qua các nhà tiên tri nhưng họ không chịu lắng nghe. Cuối cùng, ngài phó họ vào tay dân các xứ.+ 31 Vì lòng thương xót lớn lao, ngài không tận diệt+ hay từ bỏ họ, bởi ngài là Đức Chúa Trời trắc ẩn và thương xót.+

32 Và nay, lạy Đức Chúa Trời chúng con, Đức Chúa Trời vĩ đại, hùng mạnh và đáng kính sợ, đấng giữ giao ước ngài và thể hiện tình yêu thương thành tín,+ xin đừng xem nhẹ mọi khó khăn xảy đến với chúng con, vua, quan,+ thầy tế lễ,+ nhà tiên tri,+ tổ phụ chúng con cùng toàn thể dân ngài từ thời các vua của A-si-ri+ cho tới ngày nay. 33 Ngài công chính trong mọi điều xảy đến với chúng con, vì ngài hành động trung tín; còn chúng con là những kẻ hành động gian ác.+ 34 Các vua, quan, thầy tế lễ và tổ phụ chúng con đã không vâng giữ Luật pháp ngài, cũng không chú ý đến các điều răn hay lời nhắc nhở* mà ngài dùng để cảnh báo họ. 35 Ngay cả khi ở trong vương quốc mình, hưởng dư dật điều tốt lành ngài ban cũng như ở trong xứ rộng rãi và màu mỡ ngài ban, họ cũng không hầu việc ngài+ và chẳng từ bỏ những thực hành xấu xa. 36 Vì thế, hôm nay chúng con đang ở đây làm nô lệ,+ vâng, làm nô lệ trong xứ mà ngài ban cho tổ phụ chúng con để họ ăn hoa quả và những thứ tốt đẹp của xứ. 37 Sản vật dư dật của xứ thì dành cho các vua mà ngài đặt trên chúng con vì cớ tội lỗi chúng con.+ Họ cai trị trên thân thể chúng con và trên bầy gia súc chúng con tùy ý họ, và chúng con vô cùng khốn khổ.

38 Vì mọi điều ấy mà chúng con lập một thỏa thuận ràng buộc+ bằng văn bản, và văn bản ấy được các quan, người Lê-vi cùng thầy tế lễ chúng con đóng dấu chứng nhận”.+

10 Đây là những người đã đóng dấu vào đó để chứng nhận:+

Quan tổng đốc* Nê-hê-mi, con trai Ha-ca-lia,

Và Xê-đê-kia, 2 Sê-ra-gia, A-xa-ria, Giê-rê-mi, 3 Pha-su-rơ, A-ma-ria, Manh-ki-gia, 4 Hát-túc, Sê-ba-nia, Ma-lúc, 5 Ha-rim,+ Mê-rê-mốt, Áp-đia, 6 Đa-ni-ên,+ Ghi-nê-thôn, Ba-rúc, 7 Mê-su-lam, A-bi-gia, Mi-gia-min, 8 Ma-a-xia, Binh-gai và Sê-ma-gia; những người ấy là thầy tế lễ.

9 Cũng có những người Lê-vi gồm: Giê-sua con trai A-xa-nia, Bin-nui thuộc con cháu Hê-na-đát, Cát-mi-ên,+ 10 và anh em của họ là Sê-ba-nia, Hô-đi-gia, Kê-li-ta, Phê-la-gia, Ha-nan, 11 Mi-ca, Rê-hốp, Ha-sa-bia, 12 Xa-cu-rơ, Sê-rê-bia,+ Sê-ba-nia, 13 Hô-đi-gia, Ba-ni và Bê-ni-nu.

14 Những người đứng đầu dân chúng gồm: Pha-rốt, Pha-hát-mô-áp,+ Ê-lam, Xát-tu, Ba-ni, 15 Bun-ni, A-gát, Bê-bai, 16 A-đô-ni-gia, Biết-vai, A-đin, 17 A-te, Ê-xê-chia, A-xua, 18 Hô-đi-gia, Ha-sum, Bết-xai, 19 Ha-ríp, A-na-tốt, Ni-bai, 20 Mác-bi-ách, Mê-su-lam, Hê-xia, 21 Mê-sê-xa-bê-ên, Xa-đốc, Gia-đua, 22 Phê-la-tia, Ha-nan, A-na-gia, 23 Hô-sê, Ha-na-nia, Ha-súp, 24 Ha-lô-hết, Phi-la, Sô-béc, 25 Rê-hum, Ha-sáp-na, Ma-a-xê-gia, 26 A-hi-gia, Ha-nan, A-nan, 27 Ma-lúc, Ha-rim và Ba-a-nát.

28 Những người còn lại trong dân chúng—gồm các thầy tế lễ, người Lê-vi, người gác cổng, người ca hát, tôi tớ đền thờ* và mọi người đã tách biệt khỏi dân các xứ để làm theo Luật pháp Đức Chúa Trời,+ cùng với vợ, con trai và con gái họ, tức hết thảy những người có tri thức và sự hiểu biết*— 29 đã kết hợp với anh em mình, là các bậc cao trọng của họ, và thề độc rằng sẽ bước theo Luật pháp Đức Chúa Trời, tức luật được ban qua tôi tớ của Đức Chúa Trời là Môi-se, và sẽ cẩn thận vâng giữ mọi điều răn của Giê-hô-va Chúa chúng ta cùng các phán quyết và điều lệ ngài. 30 Chúng tôi sẽ không gả con gái mình cho các dân của xứ và không cưới con gái họ cho con trai mình.+

31 Nếu các dân của xứ mang hàng hóa và mọi loại ngũ cốc đến bán trong ngày Sa-bát, chúng tôi sẽ không mua bất cứ thứ gì của họ vào ngày Sa-bát+ hay ngày thánh.+ Chúng tôi cũng nghỉ canh tác vào năm thứ bảy+ và xóa mọi món nợ.+

32 Mỗi người chúng tôi tự buộc cho mình bổn phận là mỗi năm phải nộp một phần ba siếc-lơ* cho công việc phục vụ trong nhà* Đức Chúa Trời chúng ta,+ 33 cho bánh tầng,*+ lễ vật ngũ cốc hằng dâng,+ lễ vật thiêu hằng dâng vào ngày Sa-bát+ và ngày trăng mới,+ các kỳ lễ được ấn định,+ những vật thánh, lễ vật chuộc tội+ để chuộc tội cho Y-sơ-ra-ên, và cho mọi công việc của nhà Đức Chúa Trời chúng ta.

34 Ngoài ra, chúng tôi bắt thăm giữa các thầy tế lễ, người Lê-vi cùng dân chúng để thay phiên tùy theo dòng tộc mà mang củi đến nhà Đức Chúa Trời chúng ta vào thời điểm được chỉ định, năm này qua năm khác, để đốt trên bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, theo lời đã chép trong Luật pháp.+ 35 Năm này qua năm khác, chúng tôi cũng mang đến nhà Đức Giê-hô-va thổ sản chín đầu mùa của đất mình và trái chín đầu mùa của mọi loại cây trái,+ 36 cũng như con trai đầu lòng của mình và con đầu lòng của bầy gia súc mình,+ theo lời đã chép trong Luật pháp, cùng con đầu lòng của bầy đàn mình. Chúng tôi sẽ mang chúng đến nhà Đức Chúa Trời, đến cho các thầy tế lễ phục vụ trong nhà Đức Chúa Trời chúng ta.+ 37 Ngoài ra, chúng tôi phải mang đến các phòng kho* của nhà Đức Chúa Trời+ và giao cho các thầy tế lễ mẻ bột thô đầu tiên,+ phần đóng góp mình, trái của mọi loại cây,+ rượu mới và dầu;+ còn một phần mười* từ đất mình thì chúng tôi mang đến cho người Lê-vi,+ vì người Lê-vi là những người thu một phần mười trong tất cả các thành nông nghiệp của chúng tôi.

38 Thầy tế lễ, là con cháu A-rôn, phải ở cùng người Lê-vi khi họ thu một phần mười; còn người Lê-vi phải dâng một phần mười của một phần mười cho nhà Đức Chúa Trời chúng ta,+ cho các phòng* của nhà kho. 39 Vì các phòng kho* là nơi người Y-sơ-ra-ên cùng con cháu người Lê-vi phải mang đến phần đóng góp+ về ngũ cốc, rượu mới và dầu,+ và đó chính là chỗ để các vật dụng của nơi thánh, cũng là nơi có các thầy tế lễ phục vụ, có người gác cổng và người ca hát. Chúng tôi sẽ không bỏ bê nhà Đức Chúa Trời mình.+

11 Bấy giờ, các quan của dân chúng sống ở Giê-ru-sa-lem;+ nhưng những người còn lại trong dân chúng bắt thăm+ để cứ mười người thì chọn một người đến sống ở thành thánh Giê-ru-sa-lem, còn chín người kia ở lại trong các thành khác. 2 Ngoài ra, dân chúng chúc phước cho tất cả những người nam tình nguyện sống ở Giê-ru-sa-lem.

3 Đây là những người đứng đầu tỉnh sống ở Giê-ru-sa-lem. (Những người còn lại của Y-sơ-ra-ên, các thầy tế lễ, người Lê-vi, tôi tớ đền thờ*+ và con cháu của các tôi tớ Sa-lô-môn+ sống trong các thành khác của Giu-đa, ai nấy ở tại sản nghiệp riêng trong thành mình.+

4 Cũng có một số người Giu-đa và Bên-gia-min sống ở Giê-ru-sa-lem). Trong số người Giu-đa có: A-tha-gia con trai U-xi-a, U-xi-a con trai Xa-cha-ri, Xa-cha-ri con trai A-ma-ria, A-ma-ria con trai Sê-pha-tia, Sê-pha-tia con trai Ma-ha-la-ên, Ma-ha-la-ên thuộc con cháu Phê-rết;+ 5 và Ma-a-xê-gia con trai Ba-rúc, Ba-rúc con trai Côn-hô-xê, Côn-hô-xê con trai Ha-xa-gia, Ha-xa-gia con trai A-đa-gia, A-đa-gia con trai Giô-gia-ríp, Giô-gia-ríp con trai Xa-cha-ri, Xa-cha-ri con cháu người Sê-lách. 6 Hết thảy con cháu của Phê-rết sống ở Giê-ru-sa-lem là 468 người nam có năng lực.

7 Trong số người Bên-gia-min có: Sa-lu+ con trai Mê-su-lam, Mê-su-lam con trai Giô-ết, Giô-ết con trai Phê-đa-gia, Phê-đa-gia con trai Cô-la-gia, Cô-la-gia con trai Ma-a-xê-gia, Ma-a-xê-gia con trai Y-thi-ên, Y-thi-ên con trai Giê-sa-gia; 8 sau ông là Gáp-bai và Sa-lai, tổng cộng 928 người; 9 và Giô-ên con trai Xiếc-ri là người giám sát họ, còn Giu-đa con trai Ha-sê-nua là người đứng thứ hai cai quản thành.

10 Về các thầy tế lễ có: Giê-đa-gia con trai Giô-gia-ríp; Gia-kin;+ 11 Sê-ra-gia con trai Hinh-kia, Hinh-kia con trai Mê-su-lam, Mê-su-lam con trai Xa-đốc, Xa-đốc con trai Mê-ra-giốt, Mê-ra-giốt con trai A-hi-túp,+ là người lãnh đạo trong nhà của Đức Chúa Trời, 12 cùng với anh em họ là những người làm công việc của nhà ấy, tổng cộng 822 người; và A-đa-gia con trai Giê-rô-ham, Giê-rô-ham con trai Phê-la-lia, Phê-la-lia con trai Am-xi, Am-xi con trai Xa-cha-ri, Xa-cha-ri con trai Pha-su-rơ,+ Pha-su-rơ con trai Manh-ki-gia; 13 cùng anh em ông là những người đứng đầu các dòng tộc, tổng cộng 242 người; và A-mát-sai con trai A-xa-rên, A-xa-rên con trai Ạc-xai, Ạc-xai con trai Mê-si-lê-mốt, Mê-si-lê-mốt con trai Y-mê; 14 cùng anh em của họ là những người mạnh mẽ và can đảm, tổng cộng 128 người; còn người giám sát họ là Xáp-đi-ên, thành viên của một gia đình quyền thế.

15 Về người Lê-vi có: Sê-ma-gia+ con trai Ha-súp, Ha-súp con trai A-ri-kham, A-ri-kham con trai Ha-sa-bia, Ha-sa-bia con trai Bun-ni, 16 cùng Sa-bê-thai+ và Giô-xa-bát,+ thuộc những người đứng đầu người Lê-vi và coi sóc công việc bên ngoài nhà Đức Chúa Trời; 17 và Ma-ta-nia+ con trai Mi-chê, Mi-chê con trai Xáp-đi, Xáp-đi con trai A-sáp,+ là người điều khiển việc ca hát, dẫn đầu việc ngợi khen trong lúc cầu nguyện;+ cũng có Bác-bu-kia, người thứ nhì trong anh em của ông, và Áp-đa con trai Sa-mua, Sa-mua con trai Ga-la, Ga-la con trai Giê-đu-thun.+ 18 Hết thảy người Lê-vi trong thành thánh là 284 người.

19 Những người gác cổng gồm A-cúp, Tanh-môn+ và anh em của họ; họ có nhiệm vụ canh gác ở các cổng, tổng cộng 172 người.

20 Những người còn lại của Y-sơ-ra-ên, các thầy tế lễ và người Lê-vi thì sống trong tất cả các thành khác thuộc Giu-đa, ai nấy ở tại phần thừa kế của mình. 21 Các tôi tớ đền thờ*+ sống ở Ô-phên;+ Xi-ha và Ghít-ba quản lý các tôi tớ đền thờ.*

22 Người giám sát những người Lê-vi ở Giê-ru-sa-lem là U-xi con trai Ba-ni, Ba-ni con trai Ha-sa-bia, Ha-sa-bia con trai Ma-ta-nia,+ Ma-ta-nia con trai Mi-ca, thuộc con cháu A-sáp, là những người ca hát; ông coi sóc công việc của nhà Đức Chúa Trời. 23 Vì lợi ích của những người ca hát, triều đình có lệnh+ phải cung cấp một phần cố định theo nhu cầu mỗi ngày của họ. 24 Còn Phê-ta-hia con trai Mê-sê-xa-bê-ên, thuộc con cháu Xê-rách con trai Giu-đa, làm cố vấn cho vua trong mọi vấn đề của dân chúng.

25 Về những khu định cư cùng các cánh đồng xung quanh, một số người trong dân Giu-đa sống ở Ki-ri-át-ạc-ba+ và các thành phụ cận,* Đi-bôn và các thành phụ cận, Giê-cáp-xê-ên+ và các khu định cư của thành, 26 Giê-sua, Mô-la-đa,+ Bết-phê-lết,+ 27 Hát-xa-su-anh,+ Bê-e-sê-ba và các thành phụ cận,* 28 Xiếc-lác,+ Mê-cô-na và các thành phụ cận,* 29 Ên-rim-môn,+ Xô-rê-a,+ Giạt-mút, 30 Xa-nô-a,+ A-đu-lam và những khu định cư của các thành ấy, La-ki+ và các cánh đồng của thành, A-xê-ca+ và các thành phụ cận.* Họ định cư từ Bê-e-sê-ba đến tận thung lũng Hi-nôm.+

31 Còn người Bên-gia-min thì ở Ghê-ba,+ Mích-ma, A-gia, Bê-tên+ và các thành phụ cận,* 32 A-na-tốt,+ Nóp,+ A-na-ni-gia, 33 Hát-xo, Ra-ma,+ Ghi-tha-im, 34 Ha-đích, Xê-bô-im, Nê-ba-lát, 35 Lô-đơ và Ô-nô,+ là thung lũng của các thợ thủ công. 36 Một số ban của người Lê-vi từ Giu-đa được chỉ định đến Bên-gia-min.

12 Đây là các thầy tế lễ và người Lê-vi cùng đi lên với Xô-rô-ba-bên+ con trai Sê-anh-thi-ên+ và Giê-sua:+ Sê-ra-gia, Giê-rê-mi, Ê-xơ-ra, 2 A-ma-ria, Ma-lúc, Hát-túc, 3 Sê-ca-nia, Rê-hum, Mê-rê-mốt, 4 Y-đô, Ghi-nê-thôi, A-bi-gia, 5 Mi-gia-min, Ma-a-đia, Binh-ga, 6 Sê-ma-gia, Giô-gia-ríp, Giê-đa-gia, 7 Sa-lu, A-móc, Hinh-kia và Giê-đa-gia. Đó là những người đứng đầu các thầy tế lễ và anh em họ trong thời Giê-sua.

8 Những người Lê-vi gồm Giê-sua, Bin-nui, Cát-mi-ên,+ Sê-rê-bia, Giu-đa và Ma-ta-nia,+ là người dẫn đầu việc ca hát tạ ơn cùng với anh em mình. 9 Anh em của họ là Bác-bu-kia và U-ni thì đứng đối diện để làm nhiệm vụ canh gác.* 10 Giê-sua sinh Giô-gia-kim, Giô-gia-kim sinh Ê-li-a-síp,+ và Ê-li-a-síp sinh Giô-gia-đa.+ 11 Giô-gia-đa sinh Giô-na-than, và Giô-na-than sinh Gia-đua.

12 Trong thời Giô-gia-kim, những người sau đây là thầy tế lễ, tức những người đứng đầu dòng tộc: về Sê-ra-gia+ có Mê-ra-gia; về Giê-rê-mi có Ha-na-nia; 13 về Ê-xơ-ra+ có Mê-su-lam; về A-ma-ria có Giê-hô-ha-nan; 14 về Mê-lu-ki có Giô-na-than; về Sê-ba-nia có Giô-sép; 15 về Ha-rim+ có Át-na; về Mê-ra-giốt có Hên-cai; 16 về Y-đô có Xa-cha-ri; về Ghi-nê-thôn có Mê-su-lam; 17 về A-bi-gia+ có Xiếc-ri; về Min-gia-min có...;* về Mô-a-đia có Phinh-tai; 18 về Binh-ga+ có Sa-mua; về Sê-ma-gia có Giê-hô-na-than; 19 về Giô-gia-ríp có Ma-tê-nai; về Giê-đa-gia+ có U-xi; 20 về Sa-lai có Ca-lai; về A-móc có Ê-be; 21 về Hinh-kia có Ha-sa-bia; về Giê-đa-gia có Nê-tha-nê-ên.

22 Những người đứng đầu các dòng tộc của người Lê-vi, cũng như các thầy tế lễ, vào thời Ê-li-a-síp, Giô-gia-đa, Giô-ha-nan và Gia-đua+ đã được ghi tên cho đến triều đại của Đa-ri-út người Ba Tư.

23 Những người Lê-vi đứng đầu các dòng tộc thì được ghi vào sách lịch sử đương thời, cho đến thời Giô-ha-nan con trai Ê-li-a-síp. 24 Những người đứng đầu người Lê-vi gồm Ha-sa-bia, Sê-rê-bia và Giê-sua+ con trai Cát-mi-ên+ cùng anh em mình đứng đối diện nhau để dâng lời ngợi khen và cảm tạ theo lời chỉ dẫn của Đa-vít,+ người của Đức Chúa Trời, các nhóm canh gác đứng song song với nhau. 25 Những người gác cổng gồm Ma-ta-nia,+ Bác-bu-kia, Áp-đia, Mê-su-lam, Tanh-môn và A-cúp+ thì đứng canh+ các phòng kho gần các cổng. 26 Những người ấy phụng sự trong thời Giô-gia-kim, con trai Giê-sua,+ cháu Giô-xa-đác, cũng như trong thời quan tổng đốc Nê-hê-mi và Ê-xơ-ra,+ là thầy tế lễ kiêm người sao chép.*

27 Vào dịp khánh thành tường Giê-ru-sa-lem, người ta tìm người Lê-vi từ mọi nơi họ sống rồi đưa họ về Giê-ru-sa-lem để cử hành lễ khánh thành trong niềm vui mừng, với những bài hát tạ ơn,+ chập chỏa, nhạc cụ có dây và đàn hạc. 28 Các con trai của những người ca hát* tập hợp lại từ quận,* từ mọi phía xung quanh Giê-ru-sa-lem, từ những khu định cư của người Nê-tô-pha,+ 29 từ Bết-ghinh-ganh,+ từ các cánh đồng của Ghê-ba+ và Ách-ma-vết,+ vì những người ca hát đã xây các khu định cư cho mình ở khắp xung quanh Giê-ru-sa-lem. 30 Các thầy tế lễ và người Lê-vi tẩy uế mình, tẩy uế dân chúng,+ các cổng+ và tường.+

31 Rồi tôi dẫn các quan của Giu-đa lên trên tường thành. Tôi cũng lập hai nhóm ca hát tạ ơn cùng đoàn diễu hành, một nhóm ca hát đi trên tường về phía phải hướng đến Cổng Đống Tro.+ 32 Hô-sa-gia và một nửa các quan của Giu-đa đi phía sau họ, 33 cùng với A-xa-ria, Ê-xơ-ra, Mê-su-lam, 34 Giu-đa, Bên-gia-min, Sê-ma-gia và Giê-rê-mi. 35 Cùng với họ có một số con trai của các thầy tế lễ, là những người cầm kèn.+ Họ gồm: Xa-cha-ri con trai Giô-na-than, Giô-na-than con trai Sê-ma-gia, Sê-ma-gia con trai Ma-ta-nia, Ma-ta-nia con trai Mi-ca-gia, Mi-ca-gia con trai Xa-cu-rơ, Xa-cu-rơ con trai A-sáp;+ 36 và các anh em ông là Sê-ma-gia, A-xa-rên, Mi-la-lai, Ghi-la-lai, Ma-ai, Nê-tha-nê-ên, Giu-đa và Ha-na-ni cầm các nhạc cụ của Đa-vít,+ người của Đức Chúa Trời; còn người sao chép* Ê-xơ-ra+ đi trước họ. 37 Từ Cổng Suối,+ họ đi thẳng lên Cầu Thang+ của Thành Đa-vít+ theo dốc của tường bên trên Nhà Đa-vít và đi tiếp đến Cổng Nước+ ở phía đông.

38 Nhóm ca hát tạ ơn kia đi trên tường về hướng ngược lại,* và tôi cùng một nửa dân chúng theo nhóm ca hát đó đi qua phía trên Tháp Lò,+ đi tiếp đến Tường Rộng,+ 39 đi qua phía trên Cổng Ép-ra-im+ rồi tiến đến Cổng Thành Cổ,+ Cổng Cá,+ Tháp Ha-na-nê-ên,+ Tháp Mê-a và Cổng Cừu;+ họ dừng lại ở Cổng Lính Canh.

40 Cuối cùng, hai nhóm ca hát tạ ơn đứng trước nhà Đức Chúa Trời, tôi và một nửa quan cấp dưới ở cùng tôi cũng vậy; 41 ở đó còn có các thầy tế lễ cầm kèn gồm Ê-li-a-kim, Ma-a-xê-gia, Min-gia-min, Mi-ca-gia, Ê-li-ô-ê-nai, Xa-cha-ri và Ha-na-nia, 42 cũng có Ma-a-xê-gia, Sê-ma-gia, Ê-lê-a-xa, U-xi, Giê-hô-ha-nan, Manh-ki-gia, Ê-lam và Ét-xe. Những người ca hát thì hát lớn tiếng dưới sự giám sát của Dít-ra-hia.

43 Hôm đó, họ dâng rất nhiều vật tế lễ và vui mừng khôn xiết,+ vì Đức Chúa Trời làm cho họ tràn ngập niềm vui. Cả phụ nữ và trẻ em cũng vui mừng,+ nên từ rất xa cũng có thể nghe thấy tiếng reo mừng của Giê-ru-sa-lem.+

44 Vào ngày đó, có những người nam được bổ nhiệm để cai quản các nhà kho+ chứa những phần đóng góp,+ sản vật đầu mùa+ và các phần mười.*+ Từ những cánh đồng của các thành, họ phải thâu vào kho các phần mà Luật pháp quy định+ để cấp cho thầy tế lễ và người Lê-vi,+ bởi dân Giu-đa rất vui mừng vì cớ những thầy tế lễ và người Lê-vi đang phục vụ. 45 Họ bắt đầu thi hành nhiệm vụ với Đức Chúa Trời mình cũng như bổn phận tẩy uế, những người ca hát và người gác cổng cũng làm thế, theo chỉ thị của Đa-vít và con trai ông là Sa-lô-môn. 46 Vì ngày xưa, thời Đa-vít và A-sáp đã có những người chỉ đạo người ca hát, ngoài ra cũng có những bài hát ngợi khen và tạ ơn Đức Chúa Trời.+ 47 Vào thời Xô-rô-ba-bên+ và thời Nê-hê-mi, toàn thể Y-sơ-ra-ên đã cung cấp các phần cho những người ca hát+ và người gác cổng,+ tùy theo nhu cầu mỗi ngày của họ. Họ cũng để riêng phần cho người Lê-vi,+ còn người Lê-vi để riêng phần cho con cháu A-rôn.

13 Vào hôm đó, người ta đọc sách của Môi-se cho dân chúng nghe+ và thấy trong đó có viết rằng người Am-môn và người Mô-áp+ không bao giờ được gia nhập hội chúng của Đức Chúa Trời,+ 2 vì chúng không đem bánh và nước cho dân Y-sơ-ra-ên, thay vì thế chúng thuê Ba-la-am chống lại họ nhằm nguyền rủa họ.+ Nhưng Đức Chúa Trời chúng ta đã đổi lời nguyền rủa thành lời chúc phước.+ 3 Vừa khi nghe Luật pháp, họ bắt đầu tách tất cả người gốc ngoại quốc* ra khỏi người Y-sơ-ra-ên.+

4 Trước đó, thầy tế lễ coi sóc các phòng kho* của nhà Đức Chúa Trời chúng ta+ là Ê-li-a-síp,+ một người bà con của Tô-bia.+ 5 Ông ta đã dành cho Tô-bia một phòng kho* lớn, nơi từng được dùng để chứa lễ vật ngũ cốc, nhựa thơm trắng, các vật dụng và một phần mười* ngũ cốc, rượu mới và dầu,+ là những thứ mà người Lê-vi,+ người ca hát và người gác cổng được quyền nhận, cùng với phần đóng góp cho các thầy tế lễ.+

6 Trong suốt thời gian ấy, tôi không ở Giê-ru-sa-lem vì đã trở về với vua vào năm thứ ba mươi hai+ triều đại vua Ạt-ta-xét-xe+ của Ba-by-lôn; một thời gian sau, tôi xin vua cho nghỉ phép. 7 Rồi tôi đến Giê-ru-sa-lem và thấy điều tồi tệ mà Ê-li-a-síp+ đã làm vì Tô-bia,+ đó là ông ta đã dành cho hắn một phòng kho trong sân của nhà Đức Chúa Trời. 8 Điều này khiến tôi rất tức giận, nên tôi ném hết đồ đạc của Tô-bia ra khỏi phòng kho.* 9 Sau đó, tôi ra lệnh cho họ tẩy rửa sạch sẽ các phòng kho;* rồi tôi để lại vào đó các vật dụng của nhà Đức Chúa Trời,+ cùng với lễ vật ngũ cốc và nhựa thơm trắng.+

10 Tôi cũng hay rằng người Lê-vi+ không được cấp phần,+ nên những người Lê-vi và người ca hát làm công việc phục vụ đã bỏ đi, ai nấy ra ruộng mình.+ 11 Vì vậy, tôi khiển trách các quan cấp dưới+ và nói: “Tại sao nhà của Đức Chúa Trời lại bị bỏ bê?”.+ Rồi tôi triệu tập người Lê-vi và giao lại cho họ nhiệm vụ cũ. 12 Toàn thể Giu-đa mang một phần mười+ ngũ cốc, rượu mới và dầu đến các phòng kho.+ 13 Rồi tôi giao cho thầy tế lễ Sê-lê-mia, người sao chép* Xa-đốc và Phê-đa-gia, thuộc người Lê-vi, coi sóc các phòng kho, với sự trợ giúp của Ha-nan, con trai Xa-cu-rơ, cháu Ma-ta-nia, vì họ được xem là đáng tin cậy. Họ có trách nhiệm phân phát đồ cho anh em mình.

14 Lạy Đức Chúa Trời của con, xin hãy nhớ đến con+ trong việc này, và xin đừng xóa bỏ những việc làm thể hiện tình yêu thương thành tín của con đối với nhà Đức Chúa Trời và công việc phục vụ trong* nhà ấy.+

15 Trong những ngày đó, tôi thấy dân Giu-đa đạp nho trong bồn ép rượu vào ngày Sa-bát,+ mang các đống lúa chất lên lưng lừa; họ cũng mang rượu, nho, trái vả cùng đủ loại gánh hàng vào Giê-ru-sa-lem trong ngày Sa-bát.+ Vậy, tôi cảnh cáo họ không được bán lương thực vào ngày đó.* 16 Còn người Ty-rơ sống trong thành thì mang cá cùng đủ loại hàng hóa đến bán cho dân Giu-đa và trong Giê-ru-sa-lem vào ngày Sa-bát.+ 17 Do đó, tôi khiển trách các bậc quyền quý của Giu-đa và nói với họ: “Anh em làm điều ác gì vậy, sao lại vi phạm ngày Sa-bát? 18 Chẳng phải tổ phụ anh em từng làm thế nên Đức Chúa Trời chúng ta đã giáng toàn bộ tai họa này trên chúng ta và thành này hay sao? Nay anh em làm cơn giận phừng phừng trên Y-sơ-ra-ên càng tăng thêm khi vi phạm ngày Sa-bát”.+

19 Vừa khi mặt trời bắt đầu ngả bóng trên các cổng Giê-ru-sa-lem trước ngày Sa-bát, tôi ra lệnh đóng các cổng. Tôi cũng nói rằng họ chỉ được mở cổng sau ngày Sa-bát; rồi tôi bố trí một số người hầu việc của mình tại các cổng để không cho ai gánh hay chở đồ vào trong ngày Sa-bát. 20 Vì thế, những nhà buôn và người bán mọi loại hàng đã ngủ đêm ở bên ngoài Giê-ru-sa-lem một, hai lần. 21 Rồi tôi cảnh cáo họ và nói: “Sao các ngươi ngủ đêm ở trước tường thành? Nếu làm vậy lần nữa, ta sẽ dùng vũ lực với các ngươi”. Kể từ đó, họ không đến vào ngày Sa-bát nữa.

22 Tôi bảo người Lê-vi phải thường xuyên tẩy uế mình và đến gác cổng để giữ cho ngày Sa-bát được thánh.+ Lạy Đức Chúa Trời của con, xin cũng nhớ đến việc làm này của con và rủ lòng thương con tùy theo tình yêu thương thành tín dư dật của ngài.+

23 Trong những ngày ấy, tôi cũng thấy có những người Do Thái đã cưới* phụ nữ Ách-đốt,+ Am-môn và Mô-áp.+ 24 Một nửa con cái họ nói tiếng Ách-đốt, còn nửa kia nói tiếng của các dân khác, nhưng không ai trong số chúng biết nói tiếng của người Do Thái. 25 Thế là tôi khiển trách và nguyền rủa họ, đánh một số người,+ giật tóc họ và bắt họ chỉ Đức Chúa Trời mà thề. Tôi nói: “Anh em không được gả con gái mình cho con trai chúng và không được cưới con gái chúng cho mình hay con trai mình.+ 26 Chẳng phải vì những phụ nữ ấy mà vua Sa-lô-môn của Y-sơ-ra-ên đã phạm tội sao? Trong các nước không có vua nào giống như ông;+ Đức Chúa Trời yêu thương ông+ nên đã lập ông làm vua cả Y-sơ-ra-ên. Nhưng ngay cả ông cũng bị những người vợ ngoại quốc khiến cho phạm tội.+ 27 Thật không tin nổi là anh em lại phạm điều đại ác này, hành động bất trung với Đức Chúa Trời chúng ta khi cưới những phụ nữ ngoại quốc!”.+

28 Một trong những con trai của Giô-gia-đa,+ con thầy tế lễ thượng phẩm Ê-li-a-síp,+ đã trở thành con rể của San-ba-lát+ người Hô-rôn. Thế nên, tôi đuổi hắn đi cho khuất mắt tôi.

29 Lạy Đức Chúa Trời của con, xin hãy nhớ họ vì họ đã làm ô uế chức tế lễ cùng giao ước về chức tế lễ+ và người Lê-vi.+

30 Tôi đã tẩy uế dân chúng khỏi mọi sự ô uế của người ngoại quốc rồi giao nhiệm vụ cho các thầy tế lễ và người Lê-vi, mỗi người làm công việc mình.+ 31 Tôi cũng sắp đặt về việc cung cấp củi+ vào thời điểm được chỉ định và về thổ sản chín đầu mùa.

Lạy Đức Chúa Trời của con, xin hãy nhớ đến con và ban ơn cho con.+

Nghĩa là “Gia an ủi”.

Xem Phụ lục B15.

Hay “cung điện”.

Hay “Su-sa”.

Hay “lời cảnh báo ngài đã ban”.

Xem Phụ lục B15.

Hay “Bên Kia Ơ-phơ-rát”.

Hay “rừng của vua”.

Ds: “tôi tớ”.

Hay “hay quyền sở hữu”.

Hay “dâng hiến cổng ấy”.

Ds: “thuộc về ngai”.

Hay “Bên Kia Ơ-phơ-rát”.

Hay “người pha chế dầu thơm”.

Khoảng 445m. Xem Phụ lục B14.

Cũng có thể là “thuộc quận gần đó”.

Hay “Người Nê-thi-nim”. Ds: “Người được trao”.

Hay “người Nê-thi-nim”. Ds: “người được trao”.

Hay “bị xúc phạm”.

Hay “người khuân vác”.

Ds: “nói mười lần”.

Hay “trả lãi cao”.

Tức là 1% mỗi tháng.

Hay “Xin xảy ra như vậy!”.

Một siếc-lơ tương đương 11,4g. Xem Phụ lục B14.

Hay “được chuẩn bị từ tiền của tôi”.

Ds: “trong lòng”.

Xem Phụ lục B15.

Hay “Người Nê-thi-nim”. Ds: “Người được trao”.

Hay “người Nê-thi-nim”. Ds: “người được trao”.

Hay “không được liệt vào hàng thầy tế lễ vì bị ô uế”.

Hay “Ti-sa-tha”, một tước hiệu của Ba Tư dành cho quan tổng đốc của một tỉnh.

Hay “Ti-sa-tha”, một tước hiệu của Ba Tư dành cho quan tổng đốc của một tỉnh.

Thường tương đương với đồng đa-riếc của Ba Tư, nặng 8,4g. Không phải đồng đơ-rác-ma trong phần Kinh Thánh tiếng Hy Lạp. Xem Phụ lục B14.

Trong phần Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ, một mi-na tương đương 570g. Xem Phụ lục B14.

Hay “người Nê-thi-nim”. Ds: “người được trao”.

Hay “viên ký lục”.

Hay “viên ký lục”.

Hay “Xin xảy ra như vậy!”.

Hay “Ti-sa-tha”, một tước hiệu của Ba Tư dành cho quan tổng đốc của một tỉnh.

Hay “viên ký lục”.

Hay “sức mạnh”.

Hay “viên ký lục”.

Hay “chòi tạm”.

Hay “trong ba tiếng”.

Hay “từ trước vô cùng cho đến đời đời”.

Xem Bảng chú giải thuật ngữ.

Hay “điều luật đáng tin cậy”.

Ds: “giơ tay”.

Xem Bảng chú giải thuật ngữ.

Ds: “ném Luật pháp ngài ra sau lưng”.

Hay “giày đạp họ”.

Xem Bảng chú giải thuật ngữ.

Hay “lời cảnh báo”.

Hay “Ti-sa-tha”, một tước hiệu của Ba Tư dành cho quan tổng đốc của một tỉnh.

Hay “người Nê-thi-nim”. Ds: “người được trao”.

Cũng có thể là “hết thảy những người đủ lớn để hiểu”.

Một siếc-lơ tương đương 11,4g. Xem Phụ lục B14.

Hay “đền thờ”.

Tức là bánh dâng hiến.

Hay “phòng ăn”.

Hay “thuế một phần mười”.

Hay “phòng ăn”.

Hay “phòng ăn”.

Hay “người Nê-thi-nim”. Ds: “người được trao”.

Hay “Người Nê-thi-nim”. Ds: “Người được trao”.

Hay “người Nê-thi-nim”. Ds: “người được trao”.

Hay “phụ thuộc”.

Hay “phụ thuộc”.

Hay “phụ thuộc”.

Hay “phụ thuộc”.

Hay “phụ thuộc”.

Cũng có thể là “đứng đối diện trong buổi thờ phượng”.

Hẳn là bản tiếng Hê-bơ-rơ không có một tên ở đây.

Hay “viên ký lục”.

Hay “Những người ca hát đã được huấn luyện”.

Tức là quận gần sông Giô-đanh.

Hay “viên ký lục”.

Hay “về phía trước”.

Hay “thuế một phần mười”.

Hay “gốc pha tạp”.

Hay “phòng ăn”.

Hay “phòng ăn”.

Hay “thuế một phần mười”.

Hay “phòng ăn”.

Hay “phòng ăn”.

Hay “viên ký lục”.

Hay “giám hộ”.

Cũng có thể là “cảnh cáo họ vào ngày đó là không được bán lương thực”.

Hay “đem vào nhà mình”.

    Ấn phẩm Tiếng Việt (1984-2026)
    Đăng xuất
    Đăng nhập
    • Việt
    • Chia sẻ
    • Tùy chỉnh
    • Copyright © 2026 Watch Tower Bible and Tract Society of Pennsylvania
    • Điều khoản sử dụng
    • Quyền riêng tư
    • Cài đặt quyền riêng tư
    • JW.ORG
    • Đăng nhập
    Chia sẻ